Việt kiều Mỹ sắp ra toà về tội “lật đổ”

BBC 15-1-13

Đảng viên Việt Tân Nguyễn Quốc Quân, Việt kiều Mỹ bị chính quyền Việt Nam bắt giữ hồi tháng 4 năm ngoái sắp sửa ra tòa tại Thành phố Hồ Chí Minh với cáo buộc ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ theo điều 79 Bộ Luật hình sự.

Từ tiểu bang California, Hoa Kỳ, vợ ông Quân là bà Ngô Mai Hương xác nhận với BBC phiên tòa sẽ diễn ra vào thứ Ba tuần tới ngày 22/1.

Phiên tòa xét xử ông Quân diễn ra trong bối cảnh chính quyền Việt Nam đang có một loạt các động thái quyết liệt để trấn áp các tiếng nói đối kháng như xử nặng các blogger thuộc Câu lạc bộ nhà báo tự do, bỏ tù thầy giáo Đinh Đăng Định, bắt giam sinh viên Lê Phương Uyên và mới đây nhất là bắt giữ luật sư Lê Quốc Quân và xử 14 thanh niên tại Nghệ An tội ‘Tuyên truyền chống Nhà nước’.

‘Viết sẵn bản án’

Bà Hương cho biết bà được luật sư của ông Quân thông báo về phiên tòa chứ chính quyền Việt Nam ‘không bao giờ thông tin gì’ cho bà dù bà là thân nhân gần gũi nhất của ông Quân.

Luật sư của ông Quân đã được chính quyền chấp nhận là bà Nguyễn Thị Ánh Hương.

Ngoài ra ông Quân cũng đề nghị hai luật sư khác đứng ra bào chữa là Lê Quốc Quân và Nguyễn Văn Đài. Tuy nhiên, luật sư Quân vừa bị bắt với cáo buộc ‘trốn thuế’ trong khi Luật sư Nguyễn Văn Đài bị chính quyền từ chối vì ‘nhân thân không tốt’, bà Hương nói.

“Ngoài ra cũng có một luật sư ở Mỹ đứng ra cố vấn pháp lý cho anh Quân tên là Linda Malone,” bà nói thêm, “Bà Malone đã từng tham gia các vụ xử chính trị rất lớn như vụ xử diệt chủng ở Serbia.”

Bà Hương cho biết luật sư Ánh Hương sẽ bào chữa cho ông Quân theo hướng ‘không có làm gì vi phạm theo luật pháp Việt Nam’.

Bà nói việc biện hộ cho chồng bà cũng giống như trong phiên tòa xử 14 thanh niên ở Nghệ An mới đây cũng cùng một tội trạng. Tuy nhiên, theo lời bà, ‘cái chính là họ ghép tội anh Quân là đảng viên Việt Tân’.

Khung hình phạt của điều 79 là từ 12 năm tù cho đến tử hình. Tuy nhiên, bà Hương nói bà ‘không nghĩ cộng sản Việt Nam sẽ xử chồng tôi như vậy’.

“Khi chồng tôi về Việt Nam anh không có mang theo chứng cứ gì để quy anh vào tội hoạt động lật đổ chính quyền,” bà nói.

Tuy nhiên bà cũng quan ngại rằng tòa án Việt Nam ‘không xử theo điều luật’.

“Giống như họ viết sẵn bản án vào túi chứ không có theo điều luật nào cả,” bà giải thích.

Về phía Chính phủ Hoa Kỳ, bà Hương cho biết Bộ Ngoại giao và các dân biểu đang cố gắng hỗ trợ cho công dân của họ và vừa rồi sáu dân biểu đã gửi thư cho Đại sứ David Shears gây sức ép để ông quan tâm đến vụ việc của ông Quân.

‘Chia lửa với trong nước’

Về phần mình, bà Hương nói mặc dù bà rất khó khăn khi về Việt Nam nhưng bà ‘sẽ làm mọi cách’ để ‘chắc chắn lần này tôi sẽ về’ tham dự phiên tòa xử ông Quân.

“Tôi đang nhờ Đại sứ David Shears liên lạc với tòa án xin cho tôi visa nhập cảnh và giấy phép tham dự phiên tòa,” bà nói, “Tôi đang đợi câu trả lời từ phía Việt Nam.”

Về tình hình ông Quân, bà Hương nói thông qua luật sư bà biết được chồng bà ‘ốm nhưng tinh thần rất vững vàng’.

Trong tù ông Quân đã tuyệt thực ba lần để yêu cầu được gặp luật sư sau khi kết thúc giai đoạn điều tra.

Phải mất hơn hai tháng với sự can thiệp của Tòa tổng lãnh sự Mỹ ở Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Quân mới được gặp luật sư của mình, bà Hương cho biết.

Về hy vọng vào phiên tòa, bà nói bà mong chính quyền Việt Nam ‘sẽ không giữ anh ấy lâu’ trước áp lực của quốc tế và của Chính phủ Hoa Kỳ.

“Khi làm công việc này, anh Quân đã chấp nhận rủi ro là có thể bị tù đày. Anh có nói với tôi là công việc này cần thiết và xứng đáng,” bà kể.

“Nếu mà không may thì anh cho đó là cách anh chia sẻ gian nan cùng với các nhà dân chủ trong nước.”

“Họ xử anh Quân như thế nào tôi không biết, nhưng ngày nào họ còn giữ chồng tôi và bất cứ họ kết án anh tội danh gì và kết án ra sao thì họ sẽ trả giá cho việc làm tùy tiện đó,” bà khẳng định.

Ông Quân bị bắt khi vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Công an Việt Nam cho biết họ phát hiện ‘âm mưu’ của ông Quân định kích động biểu tình chống chính quyền nhân dịp kỷ niệm ngày 30/4 năm 2012.

Ông Quân, 59 tuổi, từng là giáo viên dạy toán trung học ở Việt Nam trước khi ông vượt biên bằng tàu cá vào năm 1981.

Ông đến Raleigh, bang North Carolina và lấy bằng tiến sỹ năm 1986 ở Đại học North Carolina. Hiện tại ông đang sống cùng vợ và hai con trai tại Elk Grove, California và làm việc cho một công ty công nghệ thông tin

 

Advertisements

Vietnam employs nearly 1,000 “public opinion shapers” online

  • By Kevin Collier on January 16, 2013

Vietnam’s ruling Communist Party isn’t just imprisoning dissenting bloggers.

It’s also employing nearly a thousand “public opinion shapers” to fight their ideas online.

Though it’s long been suspected, the BBC has reported that Ho Quang Loi, Hanoi’s head of Propaganda and Education Department, has admitted the existence of a small army of Internet commenters and bloggers who spend hours each day typing their support for the regime.

U.S. to Vietnam: Please don’t censor the Internet

Iran launches its own hyper-censored YouTube

Loi said the “Internet polemicists” promote government policies, discourage pro-democracy protests, and help stop negative rumors.

Vietnam, considered an “Enemy of the Internet” in an annual Reporters Without Borders report, has recently increased its already severe crackdown on citizens who use the Internet to voice dissent. In late December, two bloggers convicted of “conducting propaganda against the state”—both support the pro-Democracy Viet Tan party and ran blogs about topics like police corruption and Vietnam’s relationship with China—were denied leniency and instead must serve out a combined 22-year sentence.

On Jan. 9, a mass trial of Viet Tan supporters convicted 14 citizens for “activities aimed at overthrowing the people’s government.” Most of their crimes were Internet-related, and included dissident blogging, linking to anti-government material, and teaching digital security.

Loi said that his polemicists have been effective, citing the fact that public protests in Hanoi fell sharply from 2011 to 2012.

NGĂN CHẶN THÔNG TIN LÀ VI PHẠM NHÂN QUYỀN

Bùi Văn Bồng

 

Hiện nay, báo chí ở nước ta có các loại hình chủ yếu như: Báo in (trên giấy, lâu nay có người vẫn quen gọi là báo viết), báo hình, báo nói, báo mạng và các loại tạp chí, đặc san… Về thứ bậc và phạm vi, có báo Trung ương, báo địa phương, báo ngành, riêng trên mạng thì cũng đa dạng: Báo mạng online, mạng tự lập được cấp giấy phép, mạng do ngành, địa phương quản lý (công thông tin điện tử), và “làn sóng blog” cá nhân, giao lưu, chát… Tự do, vô tư, vui nhộn, thoái mái biểu lộ và biểu cảm chính kiến nhất vẫn là các trang blog trên nhiều hệ, kênh, tuyến băng thông, liên kết khác nhau. Tất nhiên, người đọc các blog đều phải biết tự phân định hay-dở, đúng-sai, biết cách cảm nhận và tự lý giải. Đây cũng là kênh giao lưu nhanh, nhạy cảm, ngày càng thu hút nhiều người đọc, nhất là lớp trẻ.

Do tốc độ và chất lượng phát triển của công nghệ thông tin, báo mạng là mũi xung kích thời bùng nổ thông tin toàn cầu. Nó đang dần trở thành một sức mạnh áp đảo, đẩy báo in, báo nói, báo hình vào góc khó cạnh tranh. Thời đại này, không có báo nào truyền tin nhanh bằng thông tin mạng. Một sự kiện xảy ra tại bất kỳ nơi đâu, chỉ sau vài cú nhắp chuột là cả thê giới đều biết. Sự phát triển của báo mạng song hành với tốc lực phát triển nhanh, phổ cập và lan truyền chưa từng thấy của công nghệ thông tin. Chính vì thế, “khách hàng” của báo mạng ngày càng tăng nhanh với cấp số cộng. Đầu tư cho phát triển cũng như quản lý được báo mạng là tầm nhìn hiện đại.

Các vụ gây rầm trời, rùm beng dư luận như: Nông trường Sông Hậu, Tiên Lãng, Văn Giang, Vụ Bản và một số vụ việc nổi cộm khác xảy ra thường choán nhiều “đất” và thời lượng trên các loại báo. Nhắc lại vụ Tiên Lãng cách đây đúng một năm, bạn đọc đã ít nhiều bắt mạch, phát hiện ra báo chí của ta đang mắc mấy thứ bệnh là:

– Bệnh nịnh hót, vuốt ve; bệnh chờ chỉ đạo, xin ý kiến; bệnh dựa dẫm ăn theo, nói leo; bệnh bốc đồng; bệnh câu móc, cơ hội; bệnh phỉ báng tùy tiện…

Trong các loại bệnh đó, tựu trung lại chỉ vì cái nếp cả hơn nửa thế kỷ qua: Viết theo đúng chỉ đạo. Nhà báo phải viết theo cái khuôn phép của nhà tuyên giáo. Riết rồi nhà báo mất hẳn tính chủ động, mất chính kiến, đi đến lối lam fbáo rập khuôn, máy móc. Việc chấp hành nghiêm như một nguyên tắc dẫn đến mang tiếng “nhà báo nói láo, nói thêm”. Cái chất kiêu binh của nhà báo với “cái tôi” quá to mà thiểu trung thực, thiếu dũng khí khi làm báo đã gây ra biết bao lụy phiền. Thông tin xã hội không còn nguyên bản bởi những nhào nặn theo ý lãnh đạo trực tiếp và gián tiếp. Lối quan niệm để cốt “giữ cho mình” này đã dẫn tới tính chiến đấu, tính định hướng dư luận nhằm bảo vệ công lý, lẽ phài, phê phán cái sai, xây dựng và vun đắp cho sự tốt đẹp bị hạn chế rất nhiều. Người ta biến báo chí từ cơ quan ngôn luận chính trực, tiếng nói của nhân dân, vũ khí đấu tranh, trở thành thứ ngụy trang, che chắn cho tội lỗi, bợ đỡ quan tham?

Nội dung và cách thức thông tin của họ chỉ tập trung cố thủ một lối duy nhất: Phải ủng hộ lãnh đạo, phải theo đúng chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, thông qua cơ quan Tuyên giáo…

Trong cuộc sống có rất nhiều vụ việc, vấn đề xã hội quan tâm, không ít sự bức xúc, nhưng báo chí thì cứ nhẩn nha chơi bài “cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa”, xem như không nghe, không thấy, không biết! Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết: “Cần lưu ý / lời nói thật thà có thể bị xử tội / lời nịnh hót dối lừa có thể được tuyên dương / đạo đức giả có thể thành dịch tả / lòng tốt lơ ngơ có thể lạc đường / Cần lưu ý / có cái miệng làm chức năng cái bẫy…”

Có một số vụ vừa xảy ra đã thấy ngay thông tin và bình giải trên các trang mạng Internet, dư luận ầm ầm, gây xôn xao, nhưng báo “lề phải” – cứ tạm gọi vậy cho dễ hiểu – lại im phăng phắc. Tôi có hỏi mấy người bạn là Tổng biên tập, Thư ký tòa soạn một số tờ báo tại Hà Nội, họ nói rằng đang chờ ý kiến chỉ đạo, chờ hỏi ông này bà kia, họ còn bận việc này việc nọ, chưa cho ý kiến cụ thể. Suy ngẫm thêm, hình như một số Ban biên tập thiểu bản lĩnh, bảo thủ, ngại bộc lộ chính kiến, còn giữ cái lối làm báo răm rắp tuân thủ, cũng là giữ và tôn cao thêm cái ghế của mình. Động cơ đó làm cho họ không dám mạnh dạn nói và làm, còn rất sợ chịu đủ thứ trách nhiệm…

Có tờ báo đã xác định cách an toàn nhất là “án binh bất động”, viết thật cũng khó, viết méo mó không nên, tốt nhất là “ổn định chính trị cho mình”. Thời nay, đòi hỏi thông tin của người dân phải nắm bắt nhanh, đúng, chính xác, kịp thời mà làm báo còn quá nặng kiểu cũ, công thức, câu nệ, phụ thuộc nhiều tầng nấc như thế, quả là bạn đọc cũng đành phải bó tay. Thông tin đưa chậm, nặng về phản ánh chung chung, nhiều bài vô thưởng vô phạt ít tính chiến đấu và mất tính thời sự của báo chí đồng hành với giảm số lượng phát hành, ngày càng ít bạn đọc. Phải chăng cái quan niệm báo lề phải, báo lề trái, báo chính thống, không chính thống cũng từ đó mà ra?

Như nhiều người đã đề cập, vai trò của báo chí ngày càng có tác dụng sâu rộng, ảnh hưởng lớn, nhiều khi có tác dụng định hướng dư luận, chi phối đến nhiều hoạt động xã hội, phát huy các giá trị nhân sinh, nhân văn, nhân bản, là vũ khí sắc bén đấu tranh và phản biện xã hội. Phần mở đầu Luật báo chí cũng nêu rõ: “Bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân ; phát huy vai trò của báo chí trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam”. Còn nhớ, ngày 8-2-2012, trong buổi làm việc với cán bộ chủ chốt Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo phải luôn đổi mới, không thể sáo mòn, bằng nhiều kênh thông tin phong phú, đa dạng, hiện đại… tăng cường đối thoại, phát huy hiệu quả các phương tiện báo chí, đặc biệt là báo mạng”.

Thời đại “thế giới phẳng”, toàn cầu hóa, bùng nổ thông tin toàn cầu là xu hướng phát triển tất yếu của nhân loại, cũng là hiện đại hóa quyền được thông tin (trao đổi, tiếp nhận, bình giải, giao lưu, giải trí…) của con người. Thông tin nào đúng, có sức thuyết phục đa số công chúng và dư luận xã hội thì tồn tại, được khẳng định; thông tin nào sai, méo mó, xuyên tạc tất yếu bị đào thải, và phải tự đào thải. Nội dung hàm chứa thông tin sẽ tự chịu trách nhiệm về sự tồn tại của mình. Nói bừa, nói ẩu mãi không mấy ai tiếp nhận, ủng hộ rồi cũng chán. Bởi cư dân mạng và công chúng tiếp cận thông tin đủ khả năng phân tích, kiểm nghiệm. Nhà nước không nên mất công đối phó với chuyện này. Những bức xúc của người dân và diễn biến tư tưởng mang tính “phản biện ngoài luồng”, kể cả bung ra những bất đồng chính kiến lại là những thông tin cần thiết cho nhà lãnh đạo. Vẫn đề là lãnh đạo có đủ trình độ và bản lĩnh tiếp cận nó hay không!? Ngăn chặn thông tin mạng chẳng khác nào lấy cát, bùn non mà chặn dòng lũ lớn. Chặn chỗ này, sức nước sẽ phá bung chỗ khác có khi còn lớn hơn. Đó cũng là quy luật của tự nhiên: “Tức nước vỡ bờ”. Mọi mỗ lực ngăn chặn, đấu đá, che chắn thông tin kiểu chuyên nghiệp hóa đều trở nên vô tác dụng.

Ngày 5/7/2012, Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp Quốc đã nhất trí thông qua nghị quyết khẳng định và chính thức coi việc tự do truy cập Internet là một quyền cơ bản của nhân loại, ngăn chặn và xuyên tạc giá trị mạng Internet, phá thông tin mạng là vi phạm nhân quyền. Nghị quyết này cho rằng tất cả mọi người, không phân biệt tầng lớp, tôn giáo, giới tính, độ tuổi, dân tộc….đều có quyền được truy cập Internet và tự do thể hiện suy nghĩ, quan điểm, góc nhìn của bản thân họ trên mạng thông tin toàn cầu này. Tất cả 47 thành viên của Hội đồng Nhân quyền, bao gồm cả những quốc gia nổi tiếng trong vấn đề kiểm duyệt nội dung cũng như việc truy cập vào các website của người dùng như Trung Quốc, Cuba đều đặt bút ký vào bản Nghị quyết đầy ý nghĩa này.

Ta thường thấy những cán bộ, đảng viên trung chính, có phẩm chất, năng lực, tự thây mình hoàn chỉnh, ít sai phạm gì lớn, thì lại rất quý, tôn trọng báo chí, không sợ báo chí dù về nghiệp vụ nhà báo có thể hiện ở bất kỳ dạng thức nào. Họ còn rất thích khi đối thoại với báo chí.

Chỉ có những cán bộ, đảng viên phẩm chất , năng lực kém, làm sai trái, vi phạm chuyện này việc kia, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức , lối sống, cố tình co lại, bưng bít, che giấu sai lầm mới ngán ngại, có khi sợ, né tránh báo chí. Vì thế, các nhà lãnh đạo ở các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị rất cần nâng cao nhận thức, thấy rõ vai trò, tác dụng của báo chí là kênh thông tin quan trọng, cần thiết và bổ ích phục vụ cho lãnh đạo, quản lý, điều hành trong thời đại bùng nổ thông tin hiên nay. Chấp nhận và sẵn sàng đối thoại có ban rlĩnh và chân tình đối với những phản biện xã hội của báo chí là sự đổi mới rất hữu ích của người lãnh đạo.

Để đáp ứng nhu cầu thông tin của toàn xã hội, các cơ quan báo chí thực hiện đúng vai trò, nhiệm vụ, chức năng thông tin, báo chí cần phải vượt ra khỏi lối mòn quan liêu, bao cấp, khắc phục những tư duy về quản lý, chỉ đạo khô cứng, hô hào, hành chính hóa việc làm báo, kìm hãm năng động và chính kiến phóng viên, phải theo sát xu thế phát triển của thời đại, thực sự đổi mới mạnh hơn nữa về quan điểm, cách thức tổ chức làm báo, mạnh bạo cạnh tranh thông tin, nhanh nhạy và kịp thời, phải là lực lượng tiên phong, mở đường, đi đầu trong sự nghiệp đổi mới. Nhất là cần nhanh chóng khắc phục những thứ bệnh nêu trên. Suy cho cùng, ngăn chặn thông tin đến với mọi người là vi phạm nhân quyền.

 

A Cold Shoulder for Russian Dissidents

Op-Ed Contributor
By OLEG KASHIN
Published: January 22, 2013

For Op-Ed, follow @nytopinion and to hear from the editorial page editor, Andrew Rosenthal, follow @andyrNYT.

LAST week, Alexander Dolmatov, an activist in a political party opposed to Russia’s president, Vladimir V. Putin, committed suicide at a detention center in the Netherlands. He had fled Russia last June, hoping to be granted political asylum. When his application was denied, he took his life — the only way to guarantee that he would not be deported home and, most likely, face time in prison.

A Dutch official said “the asylum denial is not the reason for his suicide,” citing a note Mr. Dolmatov, who was 36, left behind. In that note, which Mr. Dolmatov’s mother shared with me, he expressed regret for “having brought shame on everybody.” However, his lawyer has said that Mr. Dolmatov might have written the note under duress. Mr. Dolmatov’s mother has asked the Dutch government for an investigation.

Mr. Dolmatov’s case is only the latest example of the fallout of 2011-12 protests against the Putin regime. It raises questions about concern for human rights in the West, which once sheltered numerous defectors from the Soviet Union but is now less hospitable to dissidents. Instead of Western Europe, America and Israel, today’s dissidents are seeking refuge in former Soviet republics — though their safety is not guaranteed there.

Last year, two opposition activists, Anastasia Rybachenko and Mikhail Maglov, fled Russia. Ms. Rybachenko, who had initially sought asylum in Germany, is now a student in Estonia; Mr. Maglov has applied for asylum in Ukraine.

Another dissident who had fled to Ukraine, Leonid Razvozzhayev, vanished in October after requesting asylum at a United Nations office in Kiev. Days later, he emerged outside a Moscow courthouse, saying he had been kidnapped, repatriated and tortured.

Sergei Kuznetsov, a Russian journalist who has exposed corruption, left in 2011 and moved to Georgia after his attempts to seek refuge in Britain and Israel failed. The European Union has been criticized for dithering on asylum requests from Chechens and other ethnic minorities who have left Russia.

Mr. Dolmatov, Ms. Rybachenko and Mr. Maglov were all casualties of a government crackdown over a series of protests in Bolotnaya Square, which has a long history as a site of repression. Two legendary Cossack leaders were executed there: Stepan Razin in 1671 and Yemelyan Pugachev in 1775.

More recently, the square was the site of the biggest protests in Russia since the Soviet era. In December 2011, tens of thousands of Russians gathered there to protest fraud and manipulation in parliamentary elections. Mr. Putin, the president from 2000 to 2008, was prime minister at the time, while his protégé Dmitri A. Medvedev was president. The men announced a series of political reforms and a reshuffling of Mr. Putin’s staff, which gave liberals slight hope.

Mr. Putin, a K.G.B. officer during the Soviet era, has always been nervous about street protests. His regime was terrified by the largely peaceful revolutions that toppled dictators in Serbia in 2000, Georgia in 2003 and Ukraine in 2004, as well as the Arab Spring.

But the Kremlin quickly recovered from its initial fright. Last May, just before Mr. Putin and Mr. Medvedev switched jobs, thousands of Russians again thronged Bolotnaya Square. Instead of concessions, the government responded with repression. It went after ordinary participants in the protests, including a student, a journalist, even a chemist. Sometimes the authorities would first search the home of a suspect, then detain him a few days later. Because of that delay, several opposition participants managed to avoid detention by fleeing Russia after their homes were searched.

One of them, Mr. Dolmatov, went farther than others in his flight to safety. Unlike other people persecuted in connection with the demonstrations, he had been under surveillance by the F.S.B. (the K.G.B.’s successor) long before the demonstrations started, because he worked for a state-run missile-design company and had a government security clearance. After he fled, during a search of his parents’ home, a government agent told them their son was lucky to have left, or he would have been charged not only with protesting but also spying.

Mr. Dolmatov is returning to Russia — to be buried. His death is a tragedy to those who knew him and also to thousands of anti-Putin protesters who, fearing persecution, have hoped that the West would offer them a haven.

During the cold war, Western public opinion was resolutely on the side of harboring persecuted Soviet dissidents. But as the European Union has drawn closer to Russia economically, interest in Russian human rights has waned, except when developments are so outrageous — like the assassination of the journalist Anna Politkovskaya in 2006 — that they cannot be ignored. If the West’s doors remain closed, more Russian dissidents will become victims of the state — or die by their own hands.

Oleg Kashin is a correspondent and columnist for the magazine Russian Life. This article was translated by Steven Seymour from the Russian.

Từ chối lời khen của Thủ tướng Dũng

Nghệ sỹ Kim Chi (trái) và các văn công

Nghệ sỹ Kim Chi, người từng tham gia nhiều phim lớn của điện ảnh cách mạng Việt Nam, vừa từ chối làm hồ sơ khen thưởng nghệ sỹ của Thủ tướng Việt Nam vì cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng “đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân”.

Bà nói với BBC Tiếng Việt, “để được thủ tướng khen thì tôi không muốn điều đó”.

Trước đó, bà Kim Chi được Hội Điện ảnh Việt Nam gợi ý làm hồ sơ để đề nghị Thủ tướng khen thưởng, tuy nhiên bà đã gửi một lá thư cảm ơn tới Hội, đồng thời ghi rõ lý do từ chối.

“Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm.

“…Được các đồng nghiệp có tâm, có tài khen ngợi mới thật là điều vinh dự,” bà viết trong lá thư gửi Hội Điện ảnh.

‘Làm khổ dân là có tội’

Diễn viên điện ảnh Kim Chi nói thủ tướng đã làm bà mất lòng tin, và là công dân thì “có quyền thích hay không thích, mà không thích thì không nhận”.

Bà Kim Chi cho rằng một số việc thủ tướng điều hành đang bị ‘thế giới phản đối’

Giải thích về những điều thủ tướng làm khiến bà không hài lòng, bà nói, “thế giới và mọi nơi đều phản đối một số việc và cách thủ tướng điều hành”.

“Đối với tôi, ai làm lãnh đạo mà làm cho đất nước giàu, nhân dân sung sướng thì tôi quý trọng, còn ai không làm được điều đó thì tôi không thích, không quý trọng, khen tôi tôi thấy không sung sướng.”

Khi được hỏi liệu bà có sợ bị ảnh hưởng tới bản thân khi đưa ra lá thư này, nghệ sỹ nói, thậm chí cả khi người ta tạo ra những tai nạn để bà “chết” đi nữa, thì điều đó cũng không đáng sợ vì “tôi sống ngay thẳng, sống cho tử tế”.

“Cuộc đời này bao giờ sống cho ngay thẳng cũng rất khó khăn, sống cho tử tế, cho thật với lòng mình thì không phải ai cũng ủng hộ.”

“Tôi có thể không tin cá nhân ông thủ tướng nhưng mà tôi tin cái chung, còn nhiều cái điều tốt đẹp.”

Bà Kim Chi nói có biết được nhiều trường hợp bị bắt, bị tù khi “nói tiếng nói khác”, “nhưng đó là những tiếng nói bảo vệ chính nghĩa”, mà đã là nghệ sỹ dù làm gì cũng nên hướng về điều thiện.

“Là người có chức, có quyền thì lại càng phải sống ngay thẳng, mẫu mực, chứ làm khổ dân là người có tội.”

Nghệ sỹ ‘cộng sản’

Diễn viên của Biệt Động Sài Gòn nói từng đi chiến trường 10 năm, “không sợ chết với bom đạn” thì bây giờ coi mọi cái “nhẹ như lông hồng”.

Sau khi học xong lớp điện ảnh khóa đầu tiên ở miền Bắc, bà Kim Chi làm đơn xin vào chiến trường ngay vì lúc đó cuộc chiến đấu đang tới lúc căng thẳng, lúc đó bà nghĩ rằng những nơi rừng núi Trường Sơn cần tiếng hát, cần văn nghệ “để tin cách mạng còn sống”.

“Tôi cũng nói thẳng, tôi là nghệ sỹ cộng sản chính hiệu, và cho tới bây giờ, trái tim tôi là tim của một người cộng sản mong cái đất nước này sẽ hòa nhập được với thế giới, tốt đẹp hơn, giàu có hơn, và dân không khổ nữa.”

Bày tỏ tư tưởng về sự nổi tiếng trong nghiệp diễn xuất, bà Kim Chi cho rằng, sự nổi tiếng cũng là “phù du hết”, “tôi thế này là may mắn lắm rồi, đồng đội tôi có người còn đi mãi không về.”

“Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm.”

Nghệ sỹ ưu tú Kim Chi

“…Có người mà cho tới giờ hài cốt còn chẳng được đưa về, điều này làm tôi khắc khoải đau buồn lắm. Người ta cũng như mình, tuổi trẻ tất cả người ta đã hiến dâng mà không được gì.”

“Tuổi trẻ của chúng tôi thì mang cả xương máu của mình ra để mà giành lại đất nước, cho tới giờ tôi vẫn tự hào là tôi sống đẹp.”

“Còn lớp trẻ bây giờ, một số em làm những việc mà không còn kể tới cả lòng tự trọng nữa, thì tôi thấy rất là dại, dại lắm.”

“Nhưng truyền thông cũng phải có trách nhiệm,” diễn viên điện ảnh Kim Chi cho rằng, một phần là vì truyền thông thấy những chuyện không hay mà cũng đưa lên, nên “họ lầm tưởng đó là cách để nổi tiếng”.

Về lá thư gửi tới hội Điện ảnh Việt Nam từ chối làm hồ sơ nhận bằng khen của thủ tướng, nghệ sỹ Kim Chi nói không hề muốn đưa lên mạng hay nhằm kích động bất kỳ ai, mà do một người bạn thân của gia đình ngỏ ý muốn xin để đưa lên Facebook, và bà cũng không ái ngại chuyện đó.

Nghệ sỹ Kim Chi gần đây tham gia bộ phim nhiều tập Những đứa con của Biệt động Sài Gòn và còn được biết đến là vợ của đạo diễn Hồng Sến, nổi tiếng với những bộ phim như Nước về Bắc Hưng Hải, Mùa Gió Chướng, Cánh Đồng Hoang.

Thư  từ chối Thủ tướng khen của đạo diễn NTKChi

Đọc gì trong Bên Thắng Cuộc II: Quyền Bính

PHẦN III: DẤU ẤN NGUYỄN VĂN LINH          

 

Chương 12: Cởi trói

Thời kỳ “trăng mật” của TBT Nguyễn Văn Linh, vai trò của ông trong việc mở ra một không gian tự do hơn cho báo chí, văn nghệ và xét lại vụ Nhân văn Giai phẩm (Những Việc Cần Làm Ngay/ Xiềng xích “Nhân văn”/ Miền Nam “giải phóng”/ Cởi ra…)

 

Chương 13: Đa nguyên

Trong lòng xã hội Việt Nam bắt đầu xuất hiện nhu cầu cải cách chính trị, những sửa đổi chính sách trong giáo dục đại học đã tác động tích cực đến tư duy và hành động của đội ngũ giảng viên đặc biệt là sinh viên. Trước những diễn biến ở trong nước và Đông Âu, ông Nguyễn Văn Linh nhanh chóng siết lại báo chí, cách chức Trần Xuân Bách, bắt Dương Thu Hương và những người bất đồng chính kiến khác (Cải cách ở bậc đại học/ Sinh viên và các phong trào tự phát/ Đông Âu/ Cứu chủ nghĩa xã hội/ “Đa nguyên, đa đảng”/ Cách chức Trần Xuân Bách/ Kết thúc “trăng mật” với báo giới)

 

Chương 14: Khoảng cách Linh – Kiệt

Vì sao ông Linh đưa ông Đỗ Mười lên làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng năm 1988 thay vì ông Kiệt. Thực chất mối quan hệ của ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt –  sự khác nhau về mặt tính cách, quan niệm sống và gia đình (Tại sao Đỗ Mười/ Cimexcol hay “Vụ án Dương Văn Ba”/ Hai tính cách/ Hai cuộc hôn nhân/ Ở Việt Bắc/ Bà Trần Kim Anh/ Hai người con trai/ Đi bước nữa/ Vợ (bà Phan Lương Cầm) và bạn/ Cuộc sống và ý thức hệ)    

 

Chương 15: Tướng Giáp    

Mối quan hệ giữa Lê Duẩn cùng những người thân cận của ông với Tướng Giáp. Sự thật vụ án “Năm Châu – Sáu Sứ”; Vai trò thực sự của Võ Nguyên Giáp trong cuộc chiến tranh 1955-1975; Sự kiện Vịnh Bắc bộ và vụ án “chống đảng” năm 1967 (Vụ án “Năm Châu – Sáu Sứ”/ “Cách mạng miền Nam”/ Sự kiện Vịnh Bắc Bộ/ Mậu Thân và tham vọng của Lê Đức Thọ/ “Nghị quyết 21”/ Chiến dịch Hồ Chí Minh/ “Thống chế đi đặt vòng”)

 

PHẦN IV: TAM NHÂN

 

Chương 16: Thị trường      

Đông Dương đã từ một chiến trường trở thành thị trường như thế nào. Những chuyển động bên trong xã hội sau khi chấp nhận kinh tế thị trường. Cách mà Chính phủ VN và người dân tiếp thu các kiến thức về kinh tế thị trường (Tái lập hòa bình/ Lạm phát & Nước hoa Thanh Hương/ Những bước đi đầu tiên/ Lược sử kinh tế tư nhân/ Học lại “kinh tế thị trường”)

 

Chương 17: Tam quyền không phân lập

Các thời kỳ xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản. Thực chất của “tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh”. Tranh cãi và tranh chấp chính trị trong quá trình hình thành Hiếp pháp 1992 và những thay đổi của hệ thống chính trị trong thập niên 1990 (Nửa thế kỷ, bốn hiến pháp/ Quốc hội có vai trò hơn/ Thủ tướng và “người đứng đầu”/ Chia tỉnh/ “Công nông hoá” tư pháp/ “Bỏ Điều 4 là tự sát”)

 

Chương 18: Tam nhân phân quyền

Cho dù không chấp nhận tam quyền phân lập nhưng quyền lực nhà nước trong thập niên 1990 cũng có “cân bằng và giám sát” bởi sự phân quyền của tam nhân: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt (Bộ ba/ Gỡ cấm vận/ “Đa phương hóa”/ Tổng cục II/ Đất quân đội/ Hóa giá nhà/ Đường dây 500)

 

Chương 19: Đại hội VIII

Công cuộc chuyển giao thế hệ nửa cuối thập niên 1990 diễn ra đầy kịch tính do những vị lão thành chưa muốn rời chính trường. Lần đầu tiên chiếc áo khoác phục vụ tổ quốc phục vụ nhân dân tuột ra để lộ tham vọng quyền lực một cách mãnh liệt (Khúc dạo đầu/ “Thư gửi Bộ Chính trị”/ Vụ án Nguyễn Hà Phan/ Tam nhân tại vị/ Sức khỏe Trung ương)       

 

Chương 20: Lê Khả Phiêu và ba ông cố vấn

Ông Lê Khả Phiêu là người thế nào. Ai đưa ông lên và vì sao ông bị hạ bệ năm 2001 (Kỷ nguyên Internet/ Luân chuyển cán bộ/ “16 chữ vàng”/ Hiệp định thương mại Việt-Mỹ/ Bill Clinton và Lê Khả Phiêu/ Đại hội IX)        

 

Chương 21: Định hướng xã hội chủ nghĩa

Ý thức hệ được sử dụng như một quyền lực chính trị đã cản trở những cải cách kinh tế theo hướng kinh tế thị trường. Tiến trình tư nhân hóa khu vực kinh tế quốc doanh gặp khó khăn và định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục ảnh hưởng đến tương lai dân tộc (Quốc doanh chủ đạo/ Thị trường và lập trường/ Phan Văn Khải/ “Sân chơi” không bình đẳng)      

 

Chương 22: Thế hệ khác

Chân dung của những nhà lãnh đạo đương thời; những thay đổi về bản chất cầm quyền của Đảng cộng sản (Người kế nhiệm/ Kinh tế tập đoàn/ Nông Đức Mạnh/ “Phương án” Nguyễn Văn An/ Sở hữu toàn dân)

Người dân Dương Nội tẩm xăng đòi “đốt” chủ đầu tư để giữ đất

Ngày 11/1, chủ đầu tư dự án khu đô thị mới Geleximco – Lê Trọng Tấn tổ chức tiến hành đóng cọc, quây tôn xung quanh, đổ đất dự án thì bị hàng trăm hộ dân thôn La Dương “bủa vây” tẩm xăng vào giẻ đòi “đốt” chủ đầu tư…

Theo điều tra của PV Infonet, khu đất này là một phần của dự án Lê Trọng Tấn khoảng 40ha, đang bỏ hoang cỏ mọc um tùm, nằm xen kẽ thôn La Dương (phường Dương Nội, quận Hà Đông, TP. Hà Nội). Chủ đầu tư là Công ty CP Xuất nhập khẩu Tổng hợp Hà Nội (Tập đoàn GELEXIMCO).

Dự án khu đô thị mới Lê Trọng Tấn – Geleximco nằm dọc hai bên đường Lê Trọng Tấn kéo dài thuộc địa bàn huyện Hoài Đức và quận Hà Đông – Hà Nội, diện tích 135 ha, bao gồm nhà đa chức năng, siêu thị, sân golf, trường học, phòng khám đa khoa, khu tổ hợp thể dục, thể thao, nhà ở, biệt thự, chung cư…

Thời kỳ hoàng kim giá đất nền, nhà xây thô chuyển nhượng trên thị trường tại dự án này lên đến 80 – 100 triệu đồng/m2, tuy nhiên hiện nay toàn bộ dự án Lê Trọng Tấn – Geleximco rơi vào cảnh hoang vắng điêu tàn, những khu vực chưa xây dựng để cỏ mọc hoang vu.

Người dân cuốn giẻ, tẩm xăng để đốt chủ đầu tư nếu thi công dự án trên phần đất ruộng của họ

Riêng khu đất trong quy hoạch xây dựng dự án có diện tích khoảng 40ha, nằm xen khu dân cư thôn La Dương, do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, nên nhiều năm nay phần diện tích đất này vẫn bỏ hoang cỏ mọc um tùm.

Đến sáng ngày 11/1, chủ đầu tư và chính quyền địa phương tổ chức đóng cọc, quây tôn ranh giới dự án thì hàng trăm hộ dân mua xăng, tẩm vào giẻ để đòi đốt chủ đầu tư. Tuy nhiên, trước sự “bủa vây” và phản ứng quyết liệt của hàng trăm người dân thôn La Dương, chủ đầu tư và chính quyền địa phương đã rút máy móc, vật dụng… không thi công dự án nữa.

 Trao đổi với PV Infonet, bà Nguyễn Thị Hạnh – đại diện các hộ dân thôn La Dương bức xúc, khu cánh đồng cạnh thôn chúng tôi đây có nghĩa trang với hàng trăm mồ mả của người dân thôn La Dương từ nhiều đời nay, có ngôi mộ chôn cả trăm năm, có ngôi mới chỉ chôn vài 3 tháng.

 

Nhưng từ năm 2010, DN và chính quyền địa phương tự ý đo ranh giới, cắm mốc dự án rồi lên kế hoạch tự đền bù phần đất ruộng cho người dân chúng tôi với giá hơn 200.000 đồng/m2, hỗ trợ 30.000 đồng/m2 đào tạo nghề cho người dân và đền bù 4 triệu đồng/ngôi mộ mà không thông báo tới từng hộ dân. Cũng như không tổ chức gặp mặt, họp bàn để lấy ý kiến phản ánh của người dân trong thôn.

Đến tháng 3/2010, DN và chính quyền địa phương tổ chức cho 17 máy ủi, cưỡng chế, san phẳng toàn bộ mồ mả trong nghĩa trang của người dân La Dương. Gia đình ít thì 1, gia đình nhiều thì hàng chục mồ mả cha ông bị máy ủi san phẳng, có ngôi mộ còn lật hết bia, quan tài lộ thiên. Thậm chí có trường hợp mộ con nhà anh Thắng, vừa chôn được 3 tháng cũng bị máy ủi san phẳng… Hàng trăm hộ dân phản đối, thương khóc với cách làm không bài bản, chặt chẽ của DN, cũng như chính quyền địa phương…

Hàng trăm người dân La Dương phản đối chủ đầu tư dự án Lê Trọng Tấn

Chị Hạnh còn cho biết, nhà tôi có 12 ngôi mộ, mặc dù chính quyền đã san ủi như vậy, nhưng sau đó còn thông báo trên loa phát thanh rằng: “Các hộ dân nào có mồ mả nằm trong dự án mà chưa bị san ủi thì đến nhận tiền đền bù và di chuyển đi, còn hộ nào có mồ mả đã bị san ủi thì thôi…” – Chị Hạnh bức xúc.

Nhiều người dân ở thôn La Dương có đất ruộng nằm trong dự án chưa nhất trí nhận tiền đền bù nhiều năm qua và không đồng tình với cách làm, cách giải quyết đền bù đất một chiều của chủ đầu tư, chính quyền địa phương.

Bà Nguyễn Thị Nga có tới hơn 2 sào ruộng nằm trong quy hoạch dự án cũng chưa nhận tiền đền bù nhiều năm qua, trong đó có 1 ruộng cây cảnh bị chặt phá, san ủi. Theo bà Nga thì DN và chính quyền đền bù ruộng để làm dự án chỉ có 97 triệu đồng/sào, cả tiền hỗ trợ học nghề. Với giá đó chúng tôi không thể chấp nhận được, trong khi giá đất của chủ đầu tư bán cao tới cả 100 triệu đồng/m2.

Người dân dựng lều bạt cạnh mồ mả khỏi bị san ủi và đào trộm

 

 

 

Một trong những ngôi mộ bị san ủi, đắp đất tạm bợ

 

Dự án trên phần đất của người dân La Dương bỏ hoang để chăn bò

Trường hợp nhà cụ Nguyễn Thị Hào, gia đình liệt sỹ cũng có gần 1 sào ruộng nằm trong dự án mặc dù có thông báo trên loa truyền thanh xã nhưng cụ không nhận tiền. Theo cụ Hào thì gia đình không đồng ý DN lấy đất làm dự án, vì gia đình còn mỗi gần 1 sào ruộng đó để tăng gia sản xuất.

Mỗi người dân một ý kiến, một lý do không chấp nhận tiền đền bù đất ruộng của chủ đầu tư, nên nhiều năm qua một phần diện tích đất khoảng 40ha nằm trong dự án Lê Trọng Tấn vẫn bỏ hoang, trên đó là hàng trăm mồ mả bị san phẳng, xương cốt, tiểu sành lẫn lộn…

Chị Hạnh cho biết, mong muốn của người dân trong thôn La Dương là đề nghị chủ đầu tư, chính quyền địa phương khi thu hồi 100% đất của bà con thì phải trả lại 60% số ruộng đất đã bị thu hồi để bà con lấy tư liệu sản xuất và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân. Đồng thời DN và chính quyền phải quy tập, giám định ADN những ngôi mộ đã bị san ủi trước kia và hỗ trợ di dời.

Chính những rắc rối trong khâu giải phóng mặt bằng giữa người dân và DN thời gian qua, nên khi chủ đầu tư có động thái thi công dự án thì đều bị cản trở của người dân địa phương.

Nguyễn Hiế