THẢM HỌA DƯỚI CÁI TÊN “NIỀM TỰ HÀO CỦA NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM”

Tô Văn Trường

Bộ Tài chính công bố số nợ công nhưng nhiều chuyên gia cho rằng đấy là con số ảo, không phải số thật. Theo tính toán của chuyên gia Vũ Quang Việt nợ công năm 2011 ít nhất là 90 tỷ USD, bằng 74% GDP. Số này chưa tính hết nợ của Chính phủ đối với các nguồn từ trong nước như nợ qua phát hành trái phiếu. Con số này đã vượt 65% GDP mà Chính phủ dự kiến là trần cho năm 2015. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng số nợ của các Tổng công ty và các địa phương chưa được ghi đầy đủ, nếu cứ làm theo kiểu “đà điểu húc đầu vào cát”, không nhìn thẳng vào sự thật thì có ngày hối không kịp.

Theo quan điểm của người viết bài này, “nợ công đại vấn đề”  có phần duy ý chí khi phê duyệt và tiến hành thực hiện các dự án khủng, mà bài học điển hình có thể gọi thảm họa dưới cái tên “niềm tự hào của ngành dầu khí Việt Nam” chính là nhà máy lọc dầu Dung Quất. Bài học về Dung Quất là một nỗi đau không biết đến bao giờ mới nguôi không chỉ của ngành dầu khí  mà cả nền kinh tế Việt Nam. Câu chuyện này lại gợi lại ý Việt Nam nằm trong top ten của các quốc gia luôn sai lầm.

Ý tưởng thành lập nhà máy lọc dầu

Các nhà máy lọc dầu thường có 2 loại cơ cấu sản phẩm chính là cơ cấu nhiên liệu và cơ cấu hóa dầu (trong mỗi loại lại có cơ cấu tỷ lệ % các chủng loại sản phẩm tùy thuộc nhu cầu). Nhà máy lọc dầu Dung Quất chọn cơ cấu sản phẩm nhiên liệu để đảm bảo an ninh năng lượng, theo đó ưu tiên sản xuất nhiên liệu (xăng, DO, …), phần sản phẩm cho hóa dầu là thứ yếu. Vì đây, là nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam cho nên chọn cơ cấu sản phẩm  nhiên liệu là hợp lý.

Chọn lựa địa điểm nhà máy lọc dầu

Hồi ấy, đã có nhiều tranh luận về việc chọn địa điểm nhà máy lọc dầu. Có một địa điểm khá thuận lợi là Ba Ngòi thì không được chọn vì lý do Quốc phòng. Việc lựa chọn địa điểm cho lọc dầu Dung Quất liệu có phải là duy ý chí, nếu chỉ vì muốn phát triển kinh tế xã hội ở miền Trung có rất nhiều phương án, kể cả phương án phát triển du lịch. Vịnh Dung Quất dù có nước sâu nhưng tiếc thay không phải là địa điểm tốt để xây nhà máy lọc dầu (chưa tính đến bài toán kinh tế ), vì không phải là vịnh kín, chế độ bồi lắng phức tạp. Và trớ trêu nhất là sau khi khảo sát kỹ trước khi xây dựng thì lại té ra là chỗ định xây đê chắn sóng lại gặp túi bùn, chỗ phải nạo vét luồng lạch thì lại gặp đá tảng. Chính vì thế mà giá thành xây dựng công trình cảng bị đội lên rất nhiều so với dự định ban đầu. Hiện nay đã có dấu hiệu bồi lắng cát rất nhanh, vì vậy đã xảy ra chuyện bơm hút nước biển làm mát cho thiết bị nhà máy bị vỡ do cát trong nước biển nhiều quá (việc chọn vị trí đặt họng hút nước cũng có vấn đề, có thể do quá gần và quá nông).

Lựa chọn công nghệ

Trên công luận có ý kiến cho rằng: “Nhà máy lọc dầu Dung Quất vì đã lựa chọn sử dụng nguyên liệu dầu chua nên chỉ một thời gian ngắn, toàn bộ các hệ thống van, bơm, đường ống và các thiết bịkhác đã và sẽ bị lưu huỳnh trong dầu chua phá hủy từ bên trong, khiến chi phí khai thác, bảo dưỡng nhà máy lên rất cao.”. Theo chúng tôi hiểu, nhận định trên không chuẩn xác bởi vì các sự cố hiện đang xảy ra và có thể sẽ xảy ra trong tương lai không phải do sử dụng nguyên liệu dầu chua bởi vì  dù có nhắm mắt làm bừa, PVN cũng biết không thể làm như thế. Nguyên nhân chính, là do nhiều thiết bị công nghệ được chế tạo hoặc thiết kế  không chuẩn và không đồng bộ, điển hình là lỗi ở thiết bị công nghệ của phân xưởng RFCC (Residue Fluid Catalytic Cracking) được coi là trái tim của nhà máy lọc dầu. Phân xưởng RFCC tạm dịch là phân xưởng cracking xúc tác cặn tầng sôi. Cracking được Việt hóa nên không dịch là bẻ gẫy, mặc dù thực chất đây là phân xưởng bẻ gẫy mạch hydrocarbon có trong phần cặn (phần cặn này là sản phẩm của phân xưởng chưng cất dầu thô), mục đích để thu được các hydrocarbon mạch ngắn hơn cho chế biến tiếp thành nhiên liệu và nguyên liệu cho hóa dầu.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện nay chỉ có thể hoạt động với nguyên liệu dầu ngọt Bạch Hổ, do sơ đồ công nghệ của nhà máy được thiết kế chỉ để chế biến với dầu ngọt. Hiện nay, nếu đúng là thiết bị bị ăn mòn, sét rỉ (nhìn bên ngoài thì thấy nhiều thiết bị bị rỉ thật), thì đấy có thể là do phân xưởng thu hồi lưu huỳnh (Sufur Recovery Unit-SRU) không hoạt động  hoặc hoạt động không hiệu quả nên thải SO2 ra ngoài, đây là khí axit nên gây ăn mòn thiết bị.  Việc PVN đang định đầu tư “thêm một hệ thống tách lọc lưu huỳnh” càng khẳng định rằng đúng là phân xưởng thu hồi lưu huỳnh hiện nay không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng, không hiệu quả. Về mặt môi trường  toàn bộ lưu huỳnh (S) trong nguyên liệu (hàm lượng S trong dầu Bạch Hổ là 0,03%) sẽ chỉ đi vào các sản phẩm 1 phần nhỏ do yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm, còn phần lớn sẽ thải ra môi trường, chủ yếu dưới dạng SO2 ở flare (cột đuốc đốt khí chua).

Lựa chọn sai nhà thầu.

Liên doanh lọc dầu Việt-Ross tại Dung Quất đã đàm phán với Foster Weeler (UK) về FEED (Front End Engineering Design, tạm dịch là thiết kế tiền chi tiết). Có rất nhiều khó khăn nhưng cuối cùng Liên doanh đã quyết định thiết kế nhà máy với nguyên liệu hỗn hợp dầu ngọt (Việt Nam) và dầu chua (Trung Đông). Khi chấm thầu EPC, có 2 Công ty bỏ thầu, mở ra thì phát hiện cả 2 đều có lỗi, đúng ra là phải hủy. Tuy nhiên, cấp trên cho rằng quá trình gọi thầu đã mất rất nhiều thời gian, nếu làm lại thì sẽ lỡ kế hoạch và chưa chắc đã đạt kết quả nên chỉ đạo là phải chọn nhà thầu nào “ít lỗi hơn”.  Liên doanh “ngây thơ” chọn nhà thầu “ít lỗi” theo tiêu chí kỹ thuật  nhưng bị quy là gian lận, phải hủy bỏ. Lãnh đạo PVN báo cáo Chính phủ lựa chọn nhà thầu ít lỗi theo họ – đấy chính là Technip, công ty làm nhà thầu EPC cho nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện nay. Việc hủy thầu, cho phép Technip làm lại hồ sơ thầu và đàm phán kéo dài hơn 1 năm, không may lại rơi vào thời điểm mà giá thành thiết kế và mua sắm thiết bị công nghệ lọc dầu tăng vọt. Nhẽ ra, nếu chọn ngay nhà thầu ở thời điểm trước thì giá thành chỉ là 1,3 tỷ đô la nhưng khi chọn Technip thì giá lại đội lên nhiều. Lúc ấy,  PVN không thể nào giải thích được tại sao giá đàm phán cuối cùng lại tăng vọt lên như vậy nên tìm cách “gọt chân cho vừa giầy” bằng cách chuyển từ nguyên liệu dầu hỗn hợp sang 100% nguyên liệu dầu ngọt Bạch Hổ, thậm chí còn định cắt bỏ cả phân xưởng thu hồi lưu huỳnh vì định “lòe thiên hạ” là dầu ngọt ít lưu huỳnh nên có thể bỏ qua. Thực chất theo cân bằng vật chất nếu nhà máy không thu hồi S, thì tức là sẽ đốt bỏ ở flare và thải vào không khí toàn bộ lưu huỳnh ấy dưới dạng SO2, đây là lý do mà Bộ Tài nguyên và Môi trường không chấp thuận đề nghị cắt bỏ phân xưởng này.

Sau khi chọn nhà thầu, liên doanh chỉ tồn tại thêm hơn 1 năm do phía Nga rút. Đến lúc ấy,  Đảng và Chính phủ quyết định dự án này sẽ do Việt Nam tự đầu tư. Ngay từ ngày ấy, đã có một số chuyên gia tâm huyết,  am hiểu chuyên sâu kiến nghị không nên dùng chỉ một loại nguyên liệu dầu ngọt Bạch Hổ, và không nên thay đổi công nghệ (tức là giữ nguyên thiết kế FEED của Foster Weeler đã làm cho Liên doanh Việt Ross) để đảm bảo chất lượng sản phẩm và môi trường nhưng tất cả kiến nghị xác đáng đó đều bị bỏ ngoài tai của những người có thẩm quyền.

Năm 2010, Hội đồng thẩm định xây dựng cấp nhà nước cũng đã phát hiện  ra có nhiều lỗi trong thiết kế và xây lắp công nghệ tại dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhưng “ý chí lãnh đạo” quyết định dự án vẫn được hoạt động, để rồi một năm mấy lần phải dừng lại sửa chữa.  Đấy cũng chính là nguyên nhân làm nhà máy bị lỗ lớn (mỗi lần khởi động lại nhà máy có thể tốn từ vài tỷ đến vài chục tỷ VND). Giờ cái họ gọi là nâng cấp nhà máy, thực chất là thay đổi cấu hình công nghệ vì dầu ngọt chuẩn bị hết, cấu hình công nghệ hiện nay không thể chế biến loại dầu khác.

Hiệu quả kinh tế

Nói đến nhà máy lọc dầu Dung Quất và Vinashin, chuyên gia của trường Đại học Havard là Gs David Dapice, có thể gọi là 1 người bạn lớn của Việt Nam, người đã có các góp ý thẳng thắn là không nên làm trước khi các dự án khủng này được phê duyệt. Nhưng nhà nước ta trong cơn “kiêu ngạo” đâu có thèm nghe. Đến nay, những gì đã xảy ra thậm chí còn tồi tệ hơn cả những gì mà ông đã cảnh báo.

Gs David Dapice đã từng cảnh báo đại ý là:

– Với sức vóc về kinh tế – kỹ thuật, lợi thế so sánh của Việt Nam thì không nên làm nhà máy lọc dầu Dung Quất.  Với tổng đầu tư 1,5 tỷ US$ đã lỗ to rồi, mà bây giờ lại lên đến 3.5 tỷ US$. Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã thực sự trở thành một con nghiện của nền kinh tế.

– Nhà máy lọc dầu đặt ở Dung Quất là một cái sai lầm thứ 2, càng làm cho sai lầm trở nên trầm trọng.

– Nếu muốn tạo công ăn việc làm hoặc phát triển cơ sở hạ tầng của tỉnh Quảng Ngãi và miền Trung thì cần có Chương trình đầu tư riêng, rẻ, minh bạch và hiệu quả hơn nhiều. Bắt 1 Doanh nghiệp “cõng” sự phát triển của cả 1 vùng ( không thể đo lường được hiệu quả gián tiếp) thì chỉ có nhà nước ta mới tư duy và làm kiểu đó. Vậy mà gần đây công luận còn nghe thấy cả kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu số 2 ở Nghi Sơn, Thanh Hoá nữa thì không biết rồi tình hình sẽ ra sao nữa.

Thảm họa ngày nay là giá thành nhà máy đã đội lên hơn 3,5 tỷ USD  phá vỡ mọi kỷ lục thế giới về tỷ suất đầu tư cao (gấp 3-4 lần suất đầu tư trung bình cho nhà máy lọc dầu tương đương của thế giới).  Nguồn dầu ngọt Bạch Hổ đã giảm sản lượng, không đủ cung cấp cho nhà máy và sẽ nhanh chóng dần hết hẳn trong vài năm tới, nên PetroVietnam đã và đang phải nhập dầu thô ngọt khác cho nhà máy lọc dầu Dung Quất. Nếu nhập dầu ngọt từ xa về chế biến nhà máy Dung Quất sẽ tiếp tục bị lỗ hàng vài trăm nghìn đôla mỗi ngày. Với công suất khoảng 6,5 triệu tấn/năm nhà máy Dung Quất sẽ lỗ khoảng vài trăm triệu USD mỗi năm.

Thay cho lời kết  

Bê bối trong ngành dầu khí có lẽ còn nằm trong nhiều vấn đề khác, đặc biệt là sản xuất kinh doanh và sự quản lý của ngành, nhà máy lọc dầu Dung Quất mới chỉ là một mảng, thậm chí là một mảng nhỏ hơn rất nhiều so với toàn bộ ngành dầu khí. Sai lầm về nhà máy lọc dầu Dung Quất do Tập đoàn PetroVietnam  thực hiện đã được cảnh báo từ rất sớm không chỉ về nguồn dầu thô, nhưng tất cả đều rơi vào im lặng đáng sợ và bánh xe duy ý chí cứ quay theo “ý chí của hệ thống chính trị”. Những sai lầm lớn đó vẫn đang được PetroVietnam cố tình che dấu.

Câu chuyện lãng phí, quan liêu, tham nhũng, giả dối, quyền lực đều có trong dự án này. Hậu quả của bệnh duy ý chí thời Liên Xô có khá nhiều đã góp phần cho đế chế này sụp đổ không cưỡng nổi.  Thảm họa dưới cái tên niềm tự hào của ngành dầu khí VN  là Dung Quất đã thấy rõ nhưng chắc chắn người thua cuộc vẫn là nhân dân. 

T.V.T.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s