Nguyễn Tấn Dũng không từ chức là một may mắn cho Việt Nam!

Nguyễn Tấn Dũng: “Tôi cũng không từ chối bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng, Nhà nước quyết định phân công, giao phó cho tôi. Tôi sẽ tiếp tục thực hiện và nghiêm túc thực hiện như tôi đã làm trong suốt 51 năm qua”. 

Trong những ngày qua dư luận xã hội đã mổ xẻ, phân tích sôi động sự kiện “chất vấn” trong ngày 14/11 giữa đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc và Thủ tướng Cộng sản Việt Nam (CSVN) Nguyễn Tấn Dũng. Âm hưởng của sự ồn ào đến nay chưa dứt. 

Nội dung của các bài viết đa phần ủng hộ tiếng nói của đại biểu Dương Trung Quốc, được cho là hiếm hoi, can đảm, gióng lên trong một xã hội bị bị miệng, giữa nghị trường với gần 500 đại biểu “đảng chọn dân bầu” có bằng cấp gật chuyên nghiệp trước các ý kiến của lãnh đạo. 

Mọi người chủ yếu tập trung vào sự chỉ trích, mỉa mai thái độ trơ trẽn, nói không biết ngượng của Nguyễn Tấn Dũng khi trả lời đại biểu Dương Trung Quốc. 
Sẽ là thừa nếu tôi bổ sung thêm lời đáp cho câu hỏi tại sao Nguyễn Tấn Dũng không thể từ chức, bởi vì đã có quá nhiều người nói tới. Báo chí lề trái, lề đảng, nhiều trang web nước ngoài đã chỉ ra rất rõ. Ngay cả tờ “Petrotimes”, dù không dám thực sự thẳng thắn, trực diện, cũng đưa ra đến 6 nguyên do cắt nghĩa vì sao “từ chức… khó lắm“, trong đó quan trọng bậc nhất là đặc quyền, đặc lợi không chỉ dành riêng cho cá nhân quan lớn mà còn “một người làm quan cả họ được nhờ”. 

Có lẽ đại biểu Dương Trung Quốc đã vội quên, nên muốn đi tắt đón đầu? Từ văn hoá “tập thể lãnh đạo”, trở lại với lần đầu tiên “cá nhân phụ trách” biết xin lỗi trong lịch sử của ĐCSVN, các vị lãnh đạo chóp bu đã phải suy tư trường kỳ tới hơn nửa thế kỷ! 

Tính từ năm 1956, khi Hồ Chí Minh, người đứng đầu ĐCSVN, xin lỗi toàn dân về sai lầm trong Cải Cách Ruộng đất, đã làm hàng trăm ngàn người bị chết và bị đấu tố nhục hình, phá huỷ tan hoang văn hoá làng thôn VN, đến thời điểm Hội nghị Trung Ương 6 năm 2012 khi Nguyễn Phú Trọng ngẹn ngào thừa nhận sai lầm của ĐCSVN và Nguyễn Tấn Dũng xin lỗi toàn dân trước Quốc hội vào ngày 20/10/2012, là một quãng đường dài… 56 năm! 

Vậy mà chỉ trong 24 ngày (từ 20/10 đến 14/11) ông Dương Trung Quốc muốn Nguyễn Tấn Dũng đoạn tuyệt với văn hoá xin lỗi để làm tiên phong trong văn hóa từ chức? Đứa trẻ mới lọt lòng 6 tuần lễ làm sao có thể biết đi? Ngoại trừ trong chuyện cổ tích! 

Nhận định của Bertrand Russel rất phù hợp với ông Dương Trung Quốc: “Các nhà khoa học thường biến những điều không thể thành những điều có thể. Còn các chính trị gia thì thích biến những điều có thể thành những điều không thể”. 

Tưởng nói được lời xin lỗi đã là một bước đại nhảy vọt, ai ngờ dư luận không chấp nhận Nguyễn Tấn Dũng xin lỗi (suông), được xem như một động tác phủi tay sau tất cả những bê bối mà ông ta đã gây ra cho đất nước, đặc biệt trong giai đoạn trên cương vị Thủ tướng. Rất có thể đòi hỏi khắt khe của dư luận xuất phát từ tâm lý thất vọng khi biết ông X, người bị Bộ Chính Trị đề nghị kỷ luật, chính là Nguyễn Tấn Dũng, và đề nghị này đã bị chặn đứng trong cuộc bỏ phiếu của Ban Chấp Hành Trung ương, một sự việc vô cùng hi hữu, nếu không nói là chưa có tiền lệ trong nội bộ của ĐCSVN.

Ngay sau cuộc chất vấn giữa Dương Trung Quốc và Nguyễn Tấn Dũng, tôi đã nhận định trên Facebook rằng, đây là trò hề. Một số người tỏ ra không đồng tình. Thiết nghĩ, đã là trò hề, thì giả thiết về một cuộc chơi tung hứng hoàn toàn có thể là hiện thực. 

Suy nghĩ của tôi có cơ sở, bởi vì trước thời điểm “chất vấn” không lâu, câu nói của ông Dương Trung Quốc về động thái xin lỗi của Nguyễn Tấn Dũng rằng, “thông điệp thành khẩn của Thủ tướng làm an lòng dân“, đã từng làm dư luận khó chịu, bất bình. 

Hơn nữa, sau khi đọc bản “chất vấn”, ông Dương Trung Quốc đã để Nguyễn Tấn Dũng mặc sức huyên thuyên giải thích, mà không hề có phản ứng nào, dù chỉ lịch sự nhắc ông Dũng nhớ lại lời hứa khi nhận chức Thủ tướng vào năm 2006, “nếu không chống được tham nhũng thì sẽ từ chức” và lời khuyên “công chức cần phải có lòng tự trọng” của ông ta trong buổi nói chuyện tại Đại học quốc gia Sài Gòn trong ngày 21/10/2012. 

Nếu tồn tại cái gọi là pháp luật để có thể nhìn nhận dưới góc độ của nó, thì quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội được đảm bảo bằng điều 98 của Hiến pháp 1992. Còn theo điều 2, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, “chất vấn” được hiểu là “một hoạt động giám sát” của đại biểu Quốc hội về những vấn đề thuộc trách nhiệm của lãnh đạo cao nhất của nhà nước. 

Trong bài “Chất vấn và kỹ năng chất vấn” của Trung tâm Bồi dưỡng Đại biểu Dân cử thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định “các vị đại biểu Quốc hội có thể chất vấn nhiều lần về một vấn đề, cho đến khi vấn đề đó được xử lý mới chấm dứt”. 

Tôi không tin rằng, là một sử gia từng trải, một đại biểu quốc hội lâu năm, ông Dương Trung Quốc đã không ý thức được đầy đủ thực chất của “chất vấn” là gì. 

Đề cao hay ca ngợi thái quá tiếng nói của đại biểu Dương Trung Quốc, theo tôi là thiếu cẩn trọng cần thiết trước những trò chơi trí trá, mị dân truyền thống trên sân khấu chính trị Việt Nam. 

Nhưng dù sao, đề nghị của ông Dương Trung Quốc đã dẫn tới việc công chúng được nghe trực tiếp Nguyễn Tấn Dũng công khai bác bỏ việc từ chức, là một sự may mắn cho Việt Nam. 

Bởi vì người Việt có đặc tính chóng quên, dễ dãi tự sướng đến độ phát cuồng. Tôi hình dung về một hình ảnh Việt Nam trong trường hợp Nguyễn Tấn Dũng từ chức. 

Lúc bấy giờ hiệu ứng đàn vịt sẽ phát huy tối đa. Một con kêu cạc cạc, rồi hàng ngàn, hàng triệu con khác sẽ cạc cạc theo. Những dòng tít lớn trên trang nhất của 700 tờ báo lề đảng và các phương tiện truyền thông khác, sẽ tràn ngập những lời có cánh về hành động mang tính lịch sử, có một không hai của Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN đầu tiên đã thực hiện bước đột phá, đầy trách nhiệm và tự trọng, người lính tiên phong đũng cảm của văn hoá từ chức, một nhà lãnh đạo có bản lĩnh và phẩm chất chính trị tuyệt vời, v.v. và v.v. 

Không khí lên đồng này sẽ tương tự như khi cả miền Bắc phát cuồng sung sướng và tự hào đón Phạm Tuân từ Liên Xô trở về sau chuyến bay vào vũ trụ trong năm 1980. Hàng triệu người đọc báo nghe đài đảng, rạo rực tin rằng Việt Nam đang cùng Liên Xô bước vào khoa học chinh phục vũ trụ, bèo hoa dâu đã được thử nghiệm phát triển trong môi trường mất trọng lượng, có thể mang hiệu quả kinh tế mang tính đột phá. Để rồi rất nhanh sau đó, nhiều tiếu lâm xuất hiện bôi bác về chuyến bay này, như bài thơ: Phạm Tuân, Phạm Tuẫn, Phạm Tuần – Anh lên vũ trụ anh mần cái chi – Việt Nam thiếu gạo thiếu mì – Anh lên vũ trụ làm gì hở anh? 

Hoặc gần đây, khi Ngô Bảo Châu nhận Huân chương Fields, một giải thưởng có uy tín dành cho các nhà toán học dưới 40 tuổi, giá trị 15 ngàn đôla Canada, nhưng thực chất không có gì khủng khiếp đến mức dân chúng phấn hứng phát cuồng, tưởng như Việt Nam nằm ở đỉnh cao của toán học thế giới. Trong khi đó, gần với Giải Nobel hơn là giải thưởng toán học Abel, có giá trị khoảng 1 triệu đôla Mỹ. Thậm chí, cùng năm 2011, Grigory Perelman, nhà toán học người Nga đã từ chối nhận một giải thưởng toán học uy tín khác của Viện Toán học Mỹ Clay (CMI) trị giá cũng một triệu đôla, vì cho rằng, không biết cách kiểm soát cả vũ trụ nên ông chẳng cần tới tiền. Ở nhiều quốc gia khác, người nhận Giải thưởng Nobel khoa học cũng chỉ được chào đón chừng mực, khiêm nhường, không đâu tổ chức ầm ĩ và hoành tráng như ở Việt Nam. Mà chỉ với Huân chương Fields! 

Vì phát rồ, nên mặc dù kinh tế khó khăn, nhà nước ngập trong núi nợ, thâm hụt ngân sách tăng đều như diều gặp gió, chính phủ của Nguyễn Tấn Dũng vẫn hào phóng dành ngay 650 tỷ đồng (trên 30 triệu USD) thành lập Viện Toán Cao cấp, mà “không yêu cầu Viện phải nghiên cứu cái gì, việc sử dụng số kinh phí trên như thế nào là quyền của GS Ngô Bảo Châu”!!! 

Nếu Nguyễn Tấn Dũng từ chức, cả nước lại sẽ một lần nữa lên đồng tập thể. Thể nào các tay bút có tiếng trong nước, bao gồm cả những người chẳng ưa gì Nguyễn Tấn Dũng, sẵn sàng quay ngoắt 180 độ để bôi son, trét vàng lên chân dung ông ta. Không chừng còn nảy sinh sáng kiến lấy tên Nguyễn Tấn Dũng đặt cho một đại lộ nào đó ở Sài Gòn, Hà Nội, hoặc dựng tượng đài ngay khi ông ta chưa kịp về hưu! 

Cuộc lên đồng tập thể này may mắn đã không diễn ra, nhờ Nguyễn Tấn Dũng không từ chức. 

Điều này làm cho hàng chục triệu người Việt cân bằng lại tâm lý, nhìn kỹ hơn chính mình, đoạn tuyệt với ảo tưởng, quay về với thực tế mà tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng để lại cho các thế hệ tiếp nối. 

Đó là, lãnh thổ của VN (Hoàng Sa và một phần Trường Sa) đang bị Trung Quốc xâm chiếm và mưu đồ nô dịch hoá VN toàn diện, song song với sự gây hấn không ngừng leo thang. Động thái cho in hình ảnh đường Lưỡi Bò trên Biển Đông vào loại hộ chiếu gắn chip điện tử, khẳng định tham vọng truyền kiếp này bất di bất dịch. 

Đó là, hình ảnh đất nước VN xấu nhất trong con mắt của cộng đồng quốc tế kể từ cuộc đổi mới năm 1986 tới nay, nơi có một nhà nước đàn áp nhân quyền hà khắc nhất Đông Nam Á (Foreign Policy). 

Đó là, quốc gia từng được xem là một con hổ kinh tế của châu Á, nay “đã mất tiếng gầm” (Christian Science Monitor), “từ hổ thành mèo” (Newsweek) với các vụ bê bối về tham nhũng ở mức độ và quy mô lớn chưa từng thấy; nợ xấu của hệ thống ngân hàng tiến tới 10% (gần mức 10,7% của Tây Ban Nha, quốc gia đang vật lộn với khủng hoảng nợ dù có trợ cứu của Liên minh Âu châu); các tập đoàn kinh doanh, xương sống của nền kinh tế thị trường định huớng XHCN, làm ăn thua lỗ nặng và nợ nần kỷ lục, đến hết năm 2011 là 1.229.400 tỷ đồng, tương đương 61 tỷ USD, nhiều hơn nửa GDP, dẫn tới sự sụp đổ của một số là “hầu như không có vẻ cường điệu, có thể gây ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng rất lớn” (Newsweek); nợ nước ngoài tăng gấp đôi trong nhiệm kỳ thủ tướng 2006 -2010 (từ 15,64 tỷ đôla lên 32,5 tỷ đôla), đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) suy giảm, trong bảy tháng đầu năm 2012 chỉ ở mức 8 tỷ đôla, bằng 66,9% so với cùng kì năm 2011; lạm phát trong tháng 11 đang tăng tốc (Bloomberg); và 3.000 văn bản quyết định thu hồi đất không đúng thẩm quyền gây ra oan trái, đau khổ chồng chất cho hàng triệu nông dân trên cả nước, làm đảo lộn trật tự đạo đức xã hội; người lương thiện, có công xây dựng nên chế độ bị cướp trắng tay, bị đàn áp dã man, nhiều người bỏ mạng, còn kẻ thực thi pháp luật thì trở thành côn đồ hung hãn, coi dân như kẻ thù. 

Ngoài ra, cũng nên lưu ý rằng, Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục tại vị còn tránh được bi kịch khủng hoảng lãnh đạo ở thượng tầng kéo dài, có thể đẩy đất nước vào tình cảnh rối loạn hơn, khi đám kiêu binh của ông ta trong ngành an ninh và các khu vực kinh tế chủ chốt quậy tưng bừng trả đòn. Nồi cơm Việt Nam đã bị khê lại thêm nhão nhoét! 

Nói cho cùng, như đã phân tích, việc Nguyễn Tấn Dũng không từ chức chẳng mang lại ý nghĩa gì cho sự thay đổi của đất nước. Ông Dũng ra đi sẽ có ông A, B, C… nào đó thay thế. Vẫn nguyên vẹn đó hệ thống độc tài toàn trị lạc hậu và ung thối bởi nạn tham nhũng. 

Chừng nào ĐCSVN chưa chưa chấp nhận các thành phần dân tộc khác tham gia quản lý, điều hành một nhà nước dân cử với các tiêu chuẩn dân chủ phổ quát, chừng đó tương lai của Việt Nam vẫn tiếp tục bế tắc. 

Việc Nguyễn Tấn Dũng không từ chức có tác dụng làm tăng thêm nhận thức của xã hội rằng, sự độc quyền quyết định sinh mệnh dân tộc của ĐCSVN, chứ không phải bất kỳ cá nhân nào, là vật cản chủ chốt trên con đường đi tới tiến bộ, văn minh và phát triển của dân tộc Việt. 

Đã tới lúc chấm dứt mục tiêu đấu tranh nửa vời, sự thoả hiệp cải lương, niềm tin mù quáng, đối với tất cả, không chỉ với những người bất đồng chính kiến, mà cả với công chức có lương tri trong hàng ngũ ĐCSVN. Nếu đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, thì hệ thống chính trị độc quyền, đặc quyền, đặc lợi, không bị kiểm soát của một tổ chức đảng duy nhất, phải được thay thế bằng mô hình chính trị khác, thông qua một cuộc cách mạng quyết liệt, hoặc triệt để lột xác như Ba Lan, hoặc tiệm tiến nhưng dứt khoát như Miến Điện. 

Có lẽ những nhận định của tôi giống với sự lạc quan của Jonathan London, giáo sư tại Khoa Nghiên cứu châu Á và quốc tế của Đại học Hồng Kông trên “South China Morning Post” rằng, “Bi kịch của Thủ tướng Việt Nam là một dấu hiệu hy vọng của sự thay đổi”. 

Tuy nhiên, chẳng có sự thay đổi nào xảy ra trong một nhà nước độc tài toàn trị mà chỉ nhờ sự dấn thân của một số cá nhân đơn lẻ, thiếu vắng sự nối kết rộng rãi có tổ chức với quần chúng, trong khi đa số còn lại thụ động cam phận, chờ đợi phép màu xuất hiện. 

Ngày 25/11/2012 

© 2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog 

Advertisements

Ôi, đại biểu của dân!

Blog Bùi Văn Bồng 19-11-12
http://bvbong.blogspot.de/2012/11/oi-ai-bieu-cua-dan_19.html#more

 MINH DIỆN

Một năm nữa sắp trôi qua và bốn kỳ họp của Quốc hội khóa XIII sắp “kết thúc tốt đẹp”. Một ấn tượng khá rõ nét, là vị đại biểu có nước da nâu sậm, râu tóc trắng phơ tuổi tác Dương Trung Quốc, với nhân cách của một nhà sử học-dẫu có bị nhục hình như Tư Mã Thiên thời Hán vẫn nói và viết ra sự thật-thay mặt nhân dân chất vấn Thủ tướng Chính phủ những điều thiết thực.

Bên cạnh ông, một Đại biểu rất trẻ được ví như bông sen Vũ Thị Hương Sen, có những chất vấn khá sắc sảo, và đề nghị bổ sung vào luật những vấn đề cuộc sống đang đòi hỏi.

Trái chiều với ấn tượng trên, là những chất vấn, trả lời chất vấn, những đề nghị bổ sung luật, sửa đổi luật gây phảm cảm.

Đến hôm nay và có lẽ còn lâu, dư âm những lời tuyên bố hùng hồn của Bộ trưởng Đinh La Thăng về “Tướng ra trận toàn quyền quyết định”, về “đóng lệ phí là yêu nước”, về “Cấm xe máy và ô tô cá nhân”, về “ Cầm chơi golf”, về “Tiêu hủy xe máy tham gia đua xe”, về “ Tôi sẽ đi xe buýt” v.v …như còn văng vẳng bên tai, làm người ta dở khóc dở cười.

Vượt trội hơn Đinh bộ trưởng về sự hài hước, là Đại biểu Nguyễn Minh Hồng tại kỳ họp hồi đầu năm với đề nghị Quốc hội ban hành “Luật nhà thơ”.

Chấp cả hai ông về phản dân chủ là Đại biểu Hoàng Hữu Phước với “Tôi kính đề nghị Quốc hội lọai bỏ Luật biểu tình khỏi danh sách luật suốt nhiệm kỳ Quốc hội khóa 13 này”.

Nguyễn Minh Hồng đề nghị phải có luật nhà thơ, có lẽ do ông là thi sỹ, tâm hồn luôn “treo ngược trên cành cây”, nên cái tư duy nó luễnh loãng, chả biết sinh ra cái luật ấy để làm gì?

Ông Hoàng Hữu Phước, người đã từng hiến kế liên hoành cho nhà độc tài bị treo cổ Saddam Hussein, thì có chính kiến rõ ràng. Ông ta nói, dân trí nước ta còn thấp, chưa đội mũ bảo hiểm 100%, nên không thể cho ra đời luật biểu tình làm ách tắc giao thông, cản trở người đến bệnh viện sinh con!? Hoàng Hữu Phước chửi thẳng vào mặt dân rằng: “Tôi đã nghe mọi người chửi bới, thóa mạ những người đi biểu tình”. Và ông ta khẳng định “phần lớn người dân không đồng tình cho ra đời luật biểu tình”.

Đại biểu Hoàng Hữu Phước đã nhổ toẹt vào cái quyền cơ bản của công dân, một trong những quyền mang tính đặc trưng của thể chế dân chủ, đã được Hiến pháp thừa nhận là quyến tối thượng phải được triển khai trong đời sống, mà trước đó không lâu, cũng tại nghị trường Quốc hội, Thủ tướng chính phủ tuyên bố cần phải có Luật biểu tình.

Lời phát biểu ngạo mạn, khinh dân, phản hiến pháp, của Đại biểu Hoàng Hữu Phước dấy lên một làn sóng phẫn nộ của đồng bào cử tri trong và ngoài nước. Hàng chục bài báo đã lên tiếng phản đối, hàng trăm tin nhắn dồn dập gửi vào máy điện thoại di động của ông ta. Nhẽ ra Hoàng Hữu Phước phải nhẫn nhục chịu đựng và ngẫm nghĩ, xem mình có sai thì xin lỗi những người cầm lá phiếu bỏ cho mình, nhưng ông ta lại lấy cái quyền bất khả xâm phạm của Đại biểu Quốc hội, làm mình làm mẩy, ký giấy gửi khắp nơi, buộc Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh phải vào cuộc, ra quyết định khởi tố vụ án “khủng bố!”

Không biết có phải Bộ trưởng Đinh La Thăng chán vì không thành công khi đề ra những chính sách lãng nhách, hay ngán cái tính từ “ thiểu năng trí tuệ” mà mấy tháng nay im lặng.

Đại biểu Nguyễn Minh Hồng có lẽ dành thời gian bàn bạc với Chủ tịch hội nhà văn Hữu Thỉnh, để tư duy lại cái luật nhà thơ !?

Còn Đại biểu Hoàng Hữu Phước chắc đang phải bận tâm xem có bắt được kẻ nào khủng bố ông không?

Mỗi ông có một lý do riêng, nhưng có một cái chung, là hai kỳ họp liên tiếp không đăng đàn phát biểu trước Quốc hội.

Các ông không đăng đàn, thì có người khác đang đàn, Quốc hội nước ta 493 Đại biểu, mới chỉ bị miễn nhiệm một người, còn những 492 Đại biểu cơ mà! Và đâu phải chỉ ông Hồng, ông Phước có tài hùng biện? Trong cái rừng đỉnh cao trí tuệ ấy, nhiều vị còn hùng biện sắc bén hơn các ông!

Thời buổi kinh tế khó khăn, một người cười đã khó, nhiểu người cười càng khó. Vậy mà có đại biểu làm cho cả nghị trường cười nghiêng ngả, thì chả xứng đáng làm cha Azit Nêxin sao? Trong nội dung trả lời chất vấn, ông Trịnh Đình Dũng, Bộ trưởng Bộ xây dựng, nói rất tỉnh bơ về cái lối “luật rừng”.

Khi trả lời chất vấn về những sai phạm của Tập đoàn Sông Đà và các tập đoàn, tổng công ty của bộ xây dựng, ông Dũng nói hồn nhiên và ngây ngô hơn một đứa trẻ học vỡ lòng, rằng: “Câu hỏi của đại biểu thì chúng tôi đã có đầy đủ, nhưng đang để ở nhà!?”. Rồi khi nói về số tiền thất thoát 10.676 tỷ đồng của cái Tập đoàn vừa bị hạ cấp xuống tổng công ty, mà Thanh tra chính phủ kết luận từ tháng 2, Thủ tướng chỉ đạo xử lý trách nhiệm từ tháng 3, ông Dũng thản nhiên tuyên bố sai phạm đó chưa đến mức phải xử lý kỷ luật!

Không hiểu ông Ủy viên Trung ương đảng Trịnh Đình Dũng có biết, chỉ có hơn một tỷ đồng bị coi là “ lập quỹ trái phép”, mà Anh hùng lao động, giám đốc Nông trường Sông Hậu, một người phụ nữ chôn vùi gần cả đời giữa đồng chua nước mặn, kế tục sự nghiệp người cha, một sỹ quan quân đội, và cũng là một Anh hùng lao động, để lo cuộc sống cho mấy ngàn con người; bà Ba Sương đã phải bầm dập, đau đớn đến hoảng loạn khi bị lôi ra trước vành móng ngựa mấy lần hay không?

Vậy mà 10.676 tỷ đồng lại chưa tới mức xử lý kỷ luật? Phải chăng bây giờ cứ lấy Vinashin, Vinaline, ra mà so sánh, đề cho rằng mười tỷ, vài chục tỷ chả thấm tháp vào đâu mà kỷ luật, kỷ luật hết lấy ai làm việc?

Còn nhà hùng biện liến thoắng Nguyễn Văn Bình, với cương vị Thống đốc Ngân hàng Nhà nưóc, không gây cười như Đại biểu Trịnh Đình Dũng, mà làm mọi người ngạc nhiên, vì sao lại có người trâng tráo, lố bịch đến thế?

Trả lời chất vấn của đại biểu Trần Du Lịch về sự điều hành kém cỏi của ngành ngân hàng trong mục tiêu kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng, ổn định tỷ giá và câu chuyện quản lý vàng, ông Bình cao ngạo dẫn giải lý thuyết bộ ba bất khả thi, khi bản thân ông không hiểu đến đầu đến đũa, rồi cười cợt nói mà rằng chỉ xin nhận một nửa giải Nobel!? Ông còn tự chấm điểm 8 cho mình khi Tạp chí Globai Finance đã công khai đưa tin ông là một trong mười thống đốc ngân hàng tồi tệ nhất thế giới.

Tưởng như những lố bịch, ngang phè như vậy là quá rồi, ngờ đâu lại xuất hiện bà Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế luôn cam đoan rằng giá thuốc ở Việt Nam thấp hơn ở Singapore, Thái Lan, mà không chịu hiểu thu nhập đầu người ở Singapore 45 lần Việt Nam, khiêm tốn như Thái Lan cũng gấp 14 lần. Hơn nữa, nếu thuốc ở Việt Nam rẻ hơn, sao người ta không buôn lậu mang sang Thái Lan, Singapore bán mà ngược lại?

Về câu chuyện y đức trong ngành y, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng cái phong trào “nói không với phong bì” là của công đoàn ngành phát động nhân lúc bà vắng nhà, nhưng rồi lại bảo “ai phát hiện bác sỹ, y tá nào nhận phong bì cứ chụp ảnh đưa tôi”. Nghe phó giáo sư, tiến sĩ Bộ trưởng đăng đàn trước Quốc hội, một người dân như tôi hiểu ý tứ bà ra sao? Và tôi nghĩ, bà Tiến cũng không hiểu bà muốn nói gì! Trước màn hình nhỏ theo dõi họp Quốc hội, nghe bà Tiến nói cái kiểu nhặng xì ngầu như vậy, nhiều người đã lắc đầu nhăn mặt bấm chuyển kênh khác.

Nhưng phải nói ấn tượng nhất trong kỳ họp thứ 4 vừa qua là câu chuyện Thủ tướng trả lời chất vấn của đại biểu Dương Trung Quốc, tôi đã viết bài rồi. Bên cạnh đó là chuyện Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân khuyên các đại biểu Quốc hội gương mẫu không nên ăn thịt gà nhập lậu để bảo vệ sức khỏe và ngăn chặn cuộc xâm nhập gà mang mầm dịch từ Trung Quốc làm cho mọi người phì cười. Nhưng tôi nghĩ, ông Nguyễn Thiện Nhân chả có gì để phải quan tâm nữa.

Bao nhiêu cặp mắt háo hức nhìn ông từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội nhận công tác ngày nào, đã chưng hửng từ cái chiến dịch “Hai không”, rồi “Bốn không” do ông phát động khi làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo. Ông hô hoán lắm “không” như vậy rồi leo lên Phó Thủ tướng, nay đúng là không thấy được tích sự gì.

Đâu rồi cái thời ông Nguyễn Văn An điều khiển những phiên chất vấn mà những người được chất vấn vã mồ hôi? Đâu rồi những Nguyễn Minh Thuyết dám đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng? Những hình ảnh ấy mới đây thôi mà tưởng như đã xa mờ! Tôi cứ thấy tồi tội khi nhìn cái đầu bạc trắng và gương mặt suy tư của Đại biểu Dương Trung Quốc lẻ loi giữa một đám người béo tốt, rất…vô tư! M.D
 

 

Drama over Vietnam’s PM a hopeful sign of change

It is not every day that a Vietnamese national assemblyman publicly confronts a sitting prime minister and Politburo Standing Committee member live on national TV, suggesting that the latter resign. Yet that was what transpired last week, when lawmaker Duong Trung Quoc spoke out against Prime Minister Nguyen Tan Dung.

It was unprecedented straight talk from an assemblyman, something one rarely sees in Vietnam. And it is further confirmation that Vietnam’s political development has entered an extraordinary, if indeterminate, phase.

At the root of the crisis is a confidence gap between various increasingly vocal elements within the state apparatus and defenders of an increasingly untenable status quo, of which the prime minster is the most emblematic.

Last week’s drama was only the latest in a string of recent developments that have severely weakened Dung’s stature.

For years, Dung has taken heat for major corruption scandals, soft credit, mountains of bad debt and crashing state-owned businesses, while policies associated with him have been blamed for surging inflation, declining foreign investment, and stagnation or real declines in living standards.

The last six weeks have not been kind to Dung. In October, at Vietnam’s Sixth Plenum of the Party Central Committee, the secretive Politburo formally announced a readiness to censure Dung, only to be rebuffed by the Central Committee, which insisted the Politburo reflect on its collective shortcomings instead.

This in turn prompted the prime minister to offer a public apology of a sort not seen since the 1950s. Dung has since been replaced by General Secretary Nguyen Phu Trong as head of the national anti-corruption body, while his portfolio of oversight positions in state-owned conglomerates has been nearly halved.

In the meantime, a critical mass has coalesced within the state apparatus, on its borders and in cyberspace, around the perception that poor leadership and governance are truly endangering Vietnam’s prospects for the medium and longer term. It would be no exaggeration to state that the Communist Party of Vietnam is facing its most severe leadership crisis since the aftermath of land reforms in the late 1950s.

In this context, it is perhaps fitting that it was Quoc, a historian by profession, who stood up to be heard. His actions remind us that although Vietnam’s elite powers have historically repressed dissident voices, they do have their limits.

This episode may be a sign of hope. For only with accountable leadership will Vietnam manage to bridge its proud if difficult past to a promising future.

Jonathan D. London is a professor in the Department of Asian and International Studies at the City University of Hong Kong

THẢM HỌA DƯỚI CÁI TÊN “NIỀM TỰ HÀO CỦA NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM”

Tô Văn Trường

Bộ Tài chính công bố số nợ công nhưng nhiều chuyên gia cho rằng đấy là con số ảo, không phải số thật. Theo tính toán của chuyên gia Vũ Quang Việt nợ công năm 2011 ít nhất là 90 tỷ USD, bằng 74% GDP. Số này chưa tính hết nợ của Chính phủ đối với các nguồn từ trong nước như nợ qua phát hành trái phiếu. Con số này đã vượt 65% GDP mà Chính phủ dự kiến là trần cho năm 2015. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng số nợ của các Tổng công ty và các địa phương chưa được ghi đầy đủ, nếu cứ làm theo kiểu “đà điểu húc đầu vào cát”, không nhìn thẳng vào sự thật thì có ngày hối không kịp.

Theo quan điểm của người viết bài này, “nợ công đại vấn đề”  có phần duy ý chí khi phê duyệt và tiến hành thực hiện các dự án khủng, mà bài học điển hình có thể gọi thảm họa dưới cái tên “niềm tự hào của ngành dầu khí Việt Nam” chính là nhà máy lọc dầu Dung Quất. Bài học về Dung Quất là một nỗi đau không biết đến bao giờ mới nguôi không chỉ của ngành dầu khí  mà cả nền kinh tế Việt Nam. Câu chuyện này lại gợi lại ý Việt Nam nằm trong top ten của các quốc gia luôn sai lầm.

Ý tưởng thành lập nhà máy lọc dầu

Các nhà máy lọc dầu thường có 2 loại cơ cấu sản phẩm chính là cơ cấu nhiên liệu và cơ cấu hóa dầu (trong mỗi loại lại có cơ cấu tỷ lệ % các chủng loại sản phẩm tùy thuộc nhu cầu). Nhà máy lọc dầu Dung Quất chọn cơ cấu sản phẩm nhiên liệu để đảm bảo an ninh năng lượng, theo đó ưu tiên sản xuất nhiên liệu (xăng, DO, …), phần sản phẩm cho hóa dầu là thứ yếu. Vì đây, là nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam cho nên chọn cơ cấu sản phẩm  nhiên liệu là hợp lý.

Chọn lựa địa điểm nhà máy lọc dầu

Hồi ấy, đã có nhiều tranh luận về việc chọn địa điểm nhà máy lọc dầu. Có một địa điểm khá thuận lợi là Ba Ngòi thì không được chọn vì lý do Quốc phòng. Việc lựa chọn địa điểm cho lọc dầu Dung Quất liệu có phải là duy ý chí, nếu chỉ vì muốn phát triển kinh tế xã hội ở miền Trung có rất nhiều phương án, kể cả phương án phát triển du lịch. Vịnh Dung Quất dù có nước sâu nhưng tiếc thay không phải là địa điểm tốt để xây nhà máy lọc dầu (chưa tính đến bài toán kinh tế ), vì không phải là vịnh kín, chế độ bồi lắng phức tạp. Và trớ trêu nhất là sau khi khảo sát kỹ trước khi xây dựng thì lại té ra là chỗ định xây đê chắn sóng lại gặp túi bùn, chỗ phải nạo vét luồng lạch thì lại gặp đá tảng. Chính vì thế mà giá thành xây dựng công trình cảng bị đội lên rất nhiều so với dự định ban đầu. Hiện nay đã có dấu hiệu bồi lắng cát rất nhanh, vì vậy đã xảy ra chuyện bơm hút nước biển làm mát cho thiết bị nhà máy bị vỡ do cát trong nước biển nhiều quá (việc chọn vị trí đặt họng hút nước cũng có vấn đề, có thể do quá gần và quá nông).

Lựa chọn công nghệ

Trên công luận có ý kiến cho rằng: “Nhà máy lọc dầu Dung Quất vì đã lựa chọn sử dụng nguyên liệu dầu chua nên chỉ một thời gian ngắn, toàn bộ các hệ thống van, bơm, đường ống và các thiết bịkhác đã và sẽ bị lưu huỳnh trong dầu chua phá hủy từ bên trong, khiến chi phí khai thác, bảo dưỡng nhà máy lên rất cao.”. Theo chúng tôi hiểu, nhận định trên không chuẩn xác bởi vì các sự cố hiện đang xảy ra và có thể sẽ xảy ra trong tương lai không phải do sử dụng nguyên liệu dầu chua bởi vì  dù có nhắm mắt làm bừa, PVN cũng biết không thể làm như thế. Nguyên nhân chính, là do nhiều thiết bị công nghệ được chế tạo hoặc thiết kế  không chuẩn và không đồng bộ, điển hình là lỗi ở thiết bị công nghệ của phân xưởng RFCC (Residue Fluid Catalytic Cracking) được coi là trái tim của nhà máy lọc dầu. Phân xưởng RFCC tạm dịch là phân xưởng cracking xúc tác cặn tầng sôi. Cracking được Việt hóa nên không dịch là bẻ gẫy, mặc dù thực chất đây là phân xưởng bẻ gẫy mạch hydrocarbon có trong phần cặn (phần cặn này là sản phẩm của phân xưởng chưng cất dầu thô), mục đích để thu được các hydrocarbon mạch ngắn hơn cho chế biến tiếp thành nhiên liệu và nguyên liệu cho hóa dầu.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện nay chỉ có thể hoạt động với nguyên liệu dầu ngọt Bạch Hổ, do sơ đồ công nghệ của nhà máy được thiết kế chỉ để chế biến với dầu ngọt. Hiện nay, nếu đúng là thiết bị bị ăn mòn, sét rỉ (nhìn bên ngoài thì thấy nhiều thiết bị bị rỉ thật), thì đấy có thể là do phân xưởng thu hồi lưu huỳnh (Sufur Recovery Unit-SRU) không hoạt động  hoặc hoạt động không hiệu quả nên thải SO2 ra ngoài, đây là khí axit nên gây ăn mòn thiết bị.  Việc PVN đang định đầu tư “thêm một hệ thống tách lọc lưu huỳnh” càng khẳng định rằng đúng là phân xưởng thu hồi lưu huỳnh hiện nay không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng, không hiệu quả. Về mặt môi trường  toàn bộ lưu huỳnh (S) trong nguyên liệu (hàm lượng S trong dầu Bạch Hổ là 0,03%) sẽ chỉ đi vào các sản phẩm 1 phần nhỏ do yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm, còn phần lớn sẽ thải ra môi trường, chủ yếu dưới dạng SO2 ở flare (cột đuốc đốt khí chua).

Lựa chọn sai nhà thầu.

Liên doanh lọc dầu Việt-Ross tại Dung Quất đã đàm phán với Foster Weeler (UK) về FEED (Front End Engineering Design, tạm dịch là thiết kế tiền chi tiết). Có rất nhiều khó khăn nhưng cuối cùng Liên doanh đã quyết định thiết kế nhà máy với nguyên liệu hỗn hợp dầu ngọt (Việt Nam) và dầu chua (Trung Đông). Khi chấm thầu EPC, có 2 Công ty bỏ thầu, mở ra thì phát hiện cả 2 đều có lỗi, đúng ra là phải hủy. Tuy nhiên, cấp trên cho rằng quá trình gọi thầu đã mất rất nhiều thời gian, nếu làm lại thì sẽ lỡ kế hoạch và chưa chắc đã đạt kết quả nên chỉ đạo là phải chọn nhà thầu nào “ít lỗi hơn”.  Liên doanh “ngây thơ” chọn nhà thầu “ít lỗi” theo tiêu chí kỹ thuật  nhưng bị quy là gian lận, phải hủy bỏ. Lãnh đạo PVN báo cáo Chính phủ lựa chọn nhà thầu ít lỗi theo họ – đấy chính là Technip, công ty làm nhà thầu EPC cho nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện nay. Việc hủy thầu, cho phép Technip làm lại hồ sơ thầu và đàm phán kéo dài hơn 1 năm, không may lại rơi vào thời điểm mà giá thành thiết kế và mua sắm thiết bị công nghệ lọc dầu tăng vọt. Nhẽ ra, nếu chọn ngay nhà thầu ở thời điểm trước thì giá thành chỉ là 1,3 tỷ đô la nhưng khi chọn Technip thì giá lại đội lên nhiều. Lúc ấy,  PVN không thể nào giải thích được tại sao giá đàm phán cuối cùng lại tăng vọt lên như vậy nên tìm cách “gọt chân cho vừa giầy” bằng cách chuyển từ nguyên liệu dầu hỗn hợp sang 100% nguyên liệu dầu ngọt Bạch Hổ, thậm chí còn định cắt bỏ cả phân xưởng thu hồi lưu huỳnh vì định “lòe thiên hạ” là dầu ngọt ít lưu huỳnh nên có thể bỏ qua. Thực chất theo cân bằng vật chất nếu nhà máy không thu hồi S, thì tức là sẽ đốt bỏ ở flare và thải vào không khí toàn bộ lưu huỳnh ấy dưới dạng SO2, đây là lý do mà Bộ Tài nguyên và Môi trường không chấp thuận đề nghị cắt bỏ phân xưởng này.

Sau khi chọn nhà thầu, liên doanh chỉ tồn tại thêm hơn 1 năm do phía Nga rút. Đến lúc ấy,  Đảng và Chính phủ quyết định dự án này sẽ do Việt Nam tự đầu tư. Ngay từ ngày ấy, đã có một số chuyên gia tâm huyết,  am hiểu chuyên sâu kiến nghị không nên dùng chỉ một loại nguyên liệu dầu ngọt Bạch Hổ, và không nên thay đổi công nghệ (tức là giữ nguyên thiết kế FEED của Foster Weeler đã làm cho Liên doanh Việt Ross) để đảm bảo chất lượng sản phẩm và môi trường nhưng tất cả kiến nghị xác đáng đó đều bị bỏ ngoài tai của những người có thẩm quyền.

Năm 2010, Hội đồng thẩm định xây dựng cấp nhà nước cũng đã phát hiện  ra có nhiều lỗi trong thiết kế và xây lắp công nghệ tại dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhưng “ý chí lãnh đạo” quyết định dự án vẫn được hoạt động, để rồi một năm mấy lần phải dừng lại sửa chữa.  Đấy cũng chính là nguyên nhân làm nhà máy bị lỗ lớn (mỗi lần khởi động lại nhà máy có thể tốn từ vài tỷ đến vài chục tỷ VND). Giờ cái họ gọi là nâng cấp nhà máy, thực chất là thay đổi cấu hình công nghệ vì dầu ngọt chuẩn bị hết, cấu hình công nghệ hiện nay không thể chế biến loại dầu khác.

Hiệu quả kinh tế

Nói đến nhà máy lọc dầu Dung Quất và Vinashin, chuyên gia của trường Đại học Havard là Gs David Dapice, có thể gọi là 1 người bạn lớn của Việt Nam, người đã có các góp ý thẳng thắn là không nên làm trước khi các dự án khủng này được phê duyệt. Nhưng nhà nước ta trong cơn “kiêu ngạo” đâu có thèm nghe. Đến nay, những gì đã xảy ra thậm chí còn tồi tệ hơn cả những gì mà ông đã cảnh báo.

Gs David Dapice đã từng cảnh báo đại ý là:

– Với sức vóc về kinh tế – kỹ thuật, lợi thế so sánh của Việt Nam thì không nên làm nhà máy lọc dầu Dung Quất.  Với tổng đầu tư 1,5 tỷ US$ đã lỗ to rồi, mà bây giờ lại lên đến 3.5 tỷ US$. Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã thực sự trở thành một con nghiện của nền kinh tế.

– Nhà máy lọc dầu đặt ở Dung Quất là một cái sai lầm thứ 2, càng làm cho sai lầm trở nên trầm trọng.

– Nếu muốn tạo công ăn việc làm hoặc phát triển cơ sở hạ tầng của tỉnh Quảng Ngãi và miền Trung thì cần có Chương trình đầu tư riêng, rẻ, minh bạch và hiệu quả hơn nhiều. Bắt 1 Doanh nghiệp “cõng” sự phát triển của cả 1 vùng ( không thể đo lường được hiệu quả gián tiếp) thì chỉ có nhà nước ta mới tư duy và làm kiểu đó. Vậy mà gần đây công luận còn nghe thấy cả kế hoạch xây dựng nhà máy lọc dầu số 2 ở Nghi Sơn, Thanh Hoá nữa thì không biết rồi tình hình sẽ ra sao nữa.

Thảm họa ngày nay là giá thành nhà máy đã đội lên hơn 3,5 tỷ USD  phá vỡ mọi kỷ lục thế giới về tỷ suất đầu tư cao (gấp 3-4 lần suất đầu tư trung bình cho nhà máy lọc dầu tương đương của thế giới).  Nguồn dầu ngọt Bạch Hổ đã giảm sản lượng, không đủ cung cấp cho nhà máy và sẽ nhanh chóng dần hết hẳn trong vài năm tới, nên PetroVietnam đã và đang phải nhập dầu thô ngọt khác cho nhà máy lọc dầu Dung Quất. Nếu nhập dầu ngọt từ xa về chế biến nhà máy Dung Quất sẽ tiếp tục bị lỗ hàng vài trăm nghìn đôla mỗi ngày. Với công suất khoảng 6,5 triệu tấn/năm nhà máy Dung Quất sẽ lỗ khoảng vài trăm triệu USD mỗi năm.

Thay cho lời kết  

Bê bối trong ngành dầu khí có lẽ còn nằm trong nhiều vấn đề khác, đặc biệt là sản xuất kinh doanh và sự quản lý của ngành, nhà máy lọc dầu Dung Quất mới chỉ là một mảng, thậm chí là một mảng nhỏ hơn rất nhiều so với toàn bộ ngành dầu khí. Sai lầm về nhà máy lọc dầu Dung Quất do Tập đoàn PetroVietnam  thực hiện đã được cảnh báo từ rất sớm không chỉ về nguồn dầu thô, nhưng tất cả đều rơi vào im lặng đáng sợ và bánh xe duy ý chí cứ quay theo “ý chí của hệ thống chính trị”. Những sai lầm lớn đó vẫn đang được PetroVietnam cố tình che dấu.

Câu chuyện lãng phí, quan liêu, tham nhũng, giả dối, quyền lực đều có trong dự án này. Hậu quả của bệnh duy ý chí thời Liên Xô có khá nhiều đã góp phần cho đế chế này sụp đổ không cưỡng nổi.  Thảm họa dưới cái tên niềm tự hào của ngành dầu khí VN  là Dung Quất đã thấy rõ nhưng chắc chắn người thua cuộc vẫn là nhân dân. 

T.V.T.