8 bản đồ cổ chứng minh Trung Quốc không có Hoàng Sa

Trong bản đồ cổ do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước, cực nam nước này là đảo Hải Nam. Trong khi, các bản đồ hàng hải châu Âu đều thể hiện quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Dư địa đồ đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách “Quản Như Đồ của La Hồng Tiên” quyển 1, thực hiện năm 1561, phần cực nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không có Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong “Đại Minh thống nhất chí” năm 1461, quyển đầu cũng vẽ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Hoàng Minh đại thống nhất tổng đồ đời Minh, trong “Hoàng Minh chức phương địa đồ” của Trần Tổ Thụ (1635) đã vẽ phần cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Hoàng triều phủ sảnh châu huyện toàn đồ đời Thanh, năm 1862, vẽ theo “Nội phủ địa đồ” gồm 26 mảnh mang tên “Đại Thanh kịch tỉnh toàn đồ” không có Hoàng Sa và Trường Sa.

Quảng Đông tỉnh đồ trong Quảng Đông dư địa toàn đồ, do quan chức tỉnh Quảng Đông vẽ năm 1897, có lời tựa của Tổng đốc Trương Nhân Tuấn không có bất kỳ quần đảo nào ở Quảng Đông.

Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ (năm 1909) đã vẽ phần cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam.

Bản đồ ghi khoảng cách các đảo gần nhất từ quần đảo Hoàng Sa đến các đảo gần đất liền (trích từ bản đồ Southeast Asia – National Geographic Society – Washington, 1968).

Ngoài ra, bản đồ hàng hải châu Âu thế kỷ XV – XVI thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Bản đồ Đông Dương của Danvilleen vẽ năm 1735 cũng thể hiện rõ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Đầu năm 2012, huyện đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) đã phối hợp với Bảo tàng Đà Nẵng phát hành cuốn Kỷ yếu Hoàng Sa. Cuốn kỷ yếu dày hơn 200 trang gồm các phần “Hoàng Sa là của Việt Nam”, “Công tác quản lý nhà nước đối với huyện Hoàng Sa”, “Hoàng Sa và những nhân chứng lịch sử”, “Cảm nghĩ của người Đà Nẵng về Hoàng Sa”.

Đặc biệt, kỷ yếu có các tư liệu lịch sử, bằng chứng chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và phần cảm nhận về Hoàng Sa của 24 nhân chứng từng đến sống và làm việc tại quần đảo này trong những thập niên 50-70 của thế kỷ XX.

Theo VnExpress

 
Advertisements

Bản đồ cổ Trung Quốc không có Trường Sa, Hoàng Sa

Theo bản đồ cổ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do nhà Thanh xuất bản năm Giáp Thìn (1904), cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, không bao gồm hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Sáng 25-7, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã tổ chức Lễ tiếp nhận tài liệu, hiện vật do một số tổ chức, cá nhân hiến tặng.

Trong số các cổ vật được hiến tặng có bản đồ cổ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” của Trung Quốc được xuất bản dưới thời nhà Thanh, do TS Mai Ngọc Hồng, nguyên Trưởng phòng Tư liệu thư viện của Viện Hán Nôm, hiện là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam trao tặng.

 

Bản đồ Trung Quốc đời nhà Thanh “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” (1904) thể hiện rõ cực nam nước này là đảo Hải Nam, không hề có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Tấm bản đồ được TS Mai Ngọc Hồng sưu tập và lưu giữ trong suốt 35 năm. Theo TS Hồng, “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” là bản đồ hiện đại nhất của Trung Quốc từ thời cổ cho đến năm 1904. Bản đồ này được khởi thảo vào năm Khang Hy 47, tức năm 1708. Vua Khang Hy đã nhờ ba giáo sĩ, đứng đầu là Lợi Mã Đậu (người Ý), nổi tiếng thông thạo tinh văn, toán pháp, giỏi tiếng Hoa để vẽ một tấm bản đồ. Hơn một năm sau, tấm bản đồ được định hình.

Không lâu sau đó, hoàng đế Khang Hy tiếp tục triệu tập rất đông các nhà truyền giáo, giáo sĩ, cử họ về 13 tỉnh của Trung Quốc (lúc bấy giờ) đo đạc, tìm kiếm các tư liệu địa dư. Sau đợt đo đạc tìm kiếm, bản đồ được nhập thêm hai khu vực nữa là Nội Mông và Mãn Châu vào làm hai tỉnh Trực Lệ và Sơn Đông. Khi hoàn thành, bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” bao gồm 15 tỉnh.

Từ đó, trong suốt 196 năm (từ 1708 đến 1904), các triều đại Trung Quốc luôn luôn tục biên, tục bổ những bản cảo, nguyên cảo của các giáo sĩ để hoàn thành bản đồ này.

 

 TS Mai Ngọc Hồng, người đã lưu giữ tấm bản đồ cổ suốt hơn 30 năm.

 

Theo TS Hồng, tính nghiêm cẩn và khoa học của bản đồ được thể hiện thông qua việc bản đồ được xây dựng một cách rất nghiêm túc, tập trung các nhà khoa học dưới sự chỉ đạo sát sao của nhà vua. Trong khi đó, tính pháp lý của tấm bản đồ này thể hiện ở chỗ, bản đồ có tọa độ, kinh tuyến vĩ tuyến. Nhìn trên bản đồ có thể thấy, cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, không bao hàm hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Miền Bắc của Việt Nam được ghi là Việt Nam Đông Kinh, vịnh Hạ Long được ghi là vịnh Đông Kinh.

Phát biểu tại lễ tiếp nhận cổ vật, TS Vũ Quốc Hiền, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia khẳng định: “Bản đồ cổ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” là một tư liệu rất quý, là chứng cứ khoa học xác đáng để xác nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam”.

 

Ở Việt Nam, đời Vua Minh Mạng (năm 1834) đã thể hiện chủ quyền đối với hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa trong “Ðại Nam nhất thống toàn đồ”.

 

* Cũng trong sáng 25-7, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã tổ chức lễ khánh thành phòng trưng bày “Óc Eo – Phù Nam” với hơn 100 cổ vật quý của nền văn hóa Óc Eo.

Các hiện vật được trưng bày gồm các chất liệu gốm, kim loại quý, đá, gỗ và một số ít bằng đồng. Các hiện vật gốm là đồ gia dụng gồm: bình, hũ, nồi, nắp, bát, cốc chai, bếp lò…Hiện vật kim loại quý như vàng, đá, mã não, thạch anh… được chế tác thành vòng, nhẫn, bông tai, dây chuyền, hạt chuỗi, dùng làm đồ trang sức với nhiều màu sắc, kích cỡ, kiểu dáng khác nhau. Những hiện vật này được tìm thấy trong nhiều di tích và rải rác trên khắp vùng Nam bộ.

Thông qua trưng bày, Bảo tàng Lịch sử quốc gia mong muốn khách tham quan trong và ngoài nước hình dung được những đặc trưng cơ bản về văn hóa Óc Eo trong bối cảnh 10 thế kỷ đầu công nguyên, hiểu thêm về lịch sử Việt Nam, thấy được công sức lao động, trình độ chế tác của người xưa. Từ đó, mỗi người sẽ thêm trân trọng và có ý thức tốt hơn trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc.

Theo báo Nhân dân điện tử

Cô gái Việt thay đổi Luật an toàn xe bus tại Mỹ

Hiền VyRFA

Trong thời gian gần bốn năm, trên dưới hai mươi lần đến thủ đô Hoa Thịnh đốn để vận động “Dự Luật tăng cường An Toàn cho xe chở hành khách”. Ngày 6 tháng Bảy vừa qua, cô Lê Yến Chi đã được toại nguyện khi tổng thống Obama ký ban hành điều luật này. Lý do nào đã khiến một cô gái Việt tại Houston làm được việc này.

Người thân bị nạn
 
Trên đường đi dự Đại Hội Thánh Mẫu tại Dòng Đồng Công ở Carthage, thuộc tiểu bang Missouri vào tháng Tám năm 2008, một trong bốn chiếc xe Bus chở những giáo dân người Việt Houston và vùng phụ cận đã bị tai nạn thảm khốc tại Sherman, một thị trấn phía Bắc thành phố Dallas, tiểu bang Texas. Tai nạn này gây tử vong cho 17 giáo dân và nhiều người khác bị thương tích. Một trong số 17 người bị thiệt mạng là bà Lâm Sở Tường, mẹ của cô Lê Yến Chi, một tiến sĩ ngành tâm lý xã hội, hiện đang làm việc tại Houston.

Sinh ra và lớn lên tại Houston, Yến Chi là con gái út trong một gia đình có hai người con của đôi vợ chồng tị nạn cộng sản năm 1975. Bố cô qua đời trong một ca mổ tim khi cô vừa 7 tuổi và người anh 8 tuổi, lúc mẹ cô mới 39 tuổi. Bà Tường đã ở vậy nuôi hai con khôn lớn. Bà là một nhân viên sở Xã Hội, và là một con chiên ngoan đạo. Bà đã dành nhiều thời gian để sinh hoạt trong các giáo xứ. Mỗi năm Bà cùng nhiều giáo dân khác đi dự Lễ Thánh Mẫu. Cô Yến Chi cho biết cô thường đi cùng với Mẹ nhưng năm 2008, vì mới có việc làm tại Galveston, sau một thời gian dài học tiến sĩ tại Hawaii, nên cô không tham dự. Đã bốn năm trôi qua, nhưng với giọng nói đầy nước mắt khi nhắc đến cái chết của thân mẫu, Yến Chi cho biết cô vận động điều luật này vì cô không muốn thấy gia đình khác phải trải qua những mất mát lớn lao mà anh em cô đã gặp phải :

“Con rất là thương Mẹ, con thấy mất Mẹ giống như vậy, ai mà chịu nổi. Con không muốn có những người khác phải chịu cảnh khổ đau như con nên con cố gắng làm việc này để tránh chuyện tương tự xảy ra cho gia đình khác …”

Cô nói thêm là tai nạn thảm khốc đó đã làm nhiều gia đình người Việt đau khổ nhưng vì ai cũng bận rộn với công việc và gia đình, mà cô lúc đó thì còn độc thân nên có nhiều thì giờ hơn những người khác, vì vậy cô vận động dự luật tăng cường an toàn cho xe chở hành khách. Cô cho biết lúc sinh tiền, mẹ cô thường giúp đỡ người khác và cô đã hứa trước di ảnh của Mẹ là sẽ không để cái chết của Mẹ cô trở thành vô nghĩa:

“Nhiều gia đình bị ảnh hưởng vì tai nạn này. Mẹ con là người luôn luôn giúp đỡ người khác nên con phải làm việc này vì con thương Mẹ, không muốn cái chết của Mẹ là senseless hay in vain …”

Để giữ được lời hứa với vong linh thân mẫu, ngay sau tang lễ của Mẹ, Yến Chi bắt đầu tìm hiểu nguyên nhân gây ra tai nạn cho chiếc xe đã chở mẹ cô. Khi biết được đã có nhiều khiếm khuyết trong chiếc xe đó trên bản tường trình của Ủy ban kiểm soát an toàn giao thông (The National Transportation Safety Board), như là; tài xế có lượng cocaine và rượu trong máu mà có thể là người tài xế này vừa mới xử dụng ma túy khoảng một tiếng đồng hồ trước khi bắt đầu lái xe; công ty cho mướn xe này đã từng bị ngưng hoạt động vì vi phạm luật nhưng mới mở lại dưới cái tên khác, hay là nơi kiểm soát xe (inspection) đã không trang bị đầy đủ dụng cụ để làm việc này vv… Yến Chi liên lạc với các vị dân cử để tìm hiểu thêm.

Cô đã được những vị dân cử của Texas như thượng nghị sĩ Kay Baily Hitchison, dân biểu Sheila Jackson Lee cùng vài vị dân cử của các tiểu bang khác nữa,đỡ đầu dự luật này:

“Con gặp thượng nghị sĩ Kay Baily Hitchison của Texas, thượng nghị sĩ Sherrod Brown của Ohio …”

Dự luật này đã được đệ trình với lưỡng viện trước đó nhưng mãi cho đến ngày 29 tháng Sáu năm 2012, mới được Quốc Hội thông qua và Tổng Thống ký ban hành vào ngày 6 tháng Bảy. Với điều luật mới này, xe chở hành khách phải có dây cài an toàn, trần xe và cửa sổ phải an toàn hơn và đặc biệt là tài xế lái xe chở hành khách phải được kiểm soát cũng như được huấn luyện kỹ lưỡng hơn:

“Phải có seat belt cho passengers, có anti-ejection glazing on the windows… Tài xế lái xe phải khám sức khỏe …”

Luật này cũng buộc chủ hãng cho thuê xe khi mở thương vụ mới, phải khai báo nếu trong quá khứ đã từng có công ty bị đóng cửa vì vi phạm luật giao thông.
“Mấy companies mà đã bị đóng cửa mà bây giờ mở công ty khác thì phải điền vào đơn những chi tiết đó …”

Một mình vận động

000_GYI0064134152-250.jpg
 
Cô Lê Yến Chi cầm di ảnh của mẹ cô trong một buổi điều trần An toàn xe buýt ở Washington, DC hôm 30/3/2011. AFP photo

Mặc dù một mình vận động cho điều luật này, cô Yến Chi nói rằng sở dĩ có được kết quả như vậy là do chính mẹ cô luôn ở bên cạnh để giúp cô có đủ nghị lực trong ròng rã 4 năm trời để vận động. Chính mẹ cô giúp cô biến đau khổ của mình thành những công ích cho người khác, thay vì bị buồn đau đánh gục:“Con biết là con không tự mình làm được việc này mà là do Mẹ giúp con có sức mạnh để làm, tại vì cái này mà một người làm thì thấy nhiều quá. Làm sao mà một cá nhân có thể thuyết phục được Quốc Hội Mỹ, mà đặc biệt cá nhân đó lại là một người Việt! Có lẽ do con nói được tiếng Mỹ, và nói từ từ nên người ta nghe, chứ con thấy mình không là cái gì cả. Con lấy nỗi buồn mất Mẹ để làm được điều hữu ích cho người khác chứ không để cái buồn làm mình té xuống.”

Được hỏi nếu trường hợp tai nạn xảy ra tại Việt Nam mà có những nguyên do vì bất cẩn như chiếc xe đã chở mẹ cô thì cô có nghĩ là có người sẽ vận động để thay đổi gì không, Yến Chi nói rằng vì Việt Nam không có tự do nên có lẽ sẽ không có ai vận động dự luật một mình như cô đã làm:

“Nếu mà trường hợp này xảy ra bên Việt Nam chắc không có ai làm gì đâu, tại vì Việt Nam không có tự do thì không có ai làm như vậy.”

Nhưng theo cô, nếu nhiều người cùng đứng lên làm việc với nhau thì có thể sẽ làm cho chính quyền quan tâm và thay đổi:

“… because there are lots of bad situation in VietNam I would think that people need to stand together and work together…”

Trước tin vui Tổng Thống Obama ký ban hành luật mới về an toàn cho xe chở hành kháck, linh mục Đỗ Đình Bảng, người có mối thâm giao với gia đình Yến Chi trên dưới 40 năm nay cho biết, là ông rất ngạc nhiên khi dự luật do Yến Chi vận động được trở thành luật:

“Tôi rất ngạc nhiên nhưng đây cũng là cái gương cho chính tôi, bởi vì nhiều khi mình không có nghĩ là sẽ thành công nhưng cuối cùng rồi thì hôm nay chúng ta thấy là một vài tuần nữa cái luật này sẽ được phổ biến. Như vậy thì là một điều rất hay và là một điểm son cho tuổi trẻ Việt Nam. Sang bên này, được cái nền giáo dục mới thì đã biết phát triển cái tinh thần gia đình giữa mẹ con, giữa ông bà con cháu và đời mình phát triển đường lối của người Mỹ. Điều đó rất đáng khen.”

Và bà Lâm Muội, em gái của mẹ Yến Chi cũng cho biết là bà vô cùng hãnh diện về việc làm của cháu bà:

“Tôi rất hãnh diện. Tôi biết cháu làm như vậy nhưng tôi rất bất ngờ khi hay tin là dự luật đó đã thành luật rồi. Cháu đã làm được một việc lớn như vậy. Một mình mà đi lên Washington D.C. cả 20 lần trong vòng gần 4 năm để hoàn thành công việc đó thì tôi thấy cháu thật là xứng đáng đã thành công.”

Chúng ta thường nghe nói “Một con Én không làm nổi mùa Xuân” nhưng với sự kiên trì và lòng yêu kính đấng sinh thành đã khuất, một cô gái Việt đã thành công trong việc thay đổi được luật an toàn cho xe chở hành khách tại Hoa Kỳ.

 
 

Ông Nguyễn Thế Thảo bị Trung Quốc lợi dụng!?

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Báo chí đưa tin chiều 13/7/2012, ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội đã phát biểu trước kỳ họp bế mạc của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội.

“Về an ninh trật tự, ông Thảo đặc biệt lưu ý tình trạng tập trung đông người kéo về Hà Nội khiếu kiện có tổ chức theo chỉ đạo của đối tượng xấu. “Lợi dụng tình hình trên, các thế lực thù địch và số cơ hội chính trị đã kích động người dân, nhất là số người đi khiếu kiện ở các địa phương biểu tình để gây áp lực với chính quyền phải giải quyết những khiếu nại, yêu sách”, ông Thảo nói”.

Chủ tịch UBND Hà Nội cũng cho rằng trong các vụ tụ tập, biểu tình phản đối Trung Quốc, cũng có đa số là những người khiếu kiện đất đai bị lợi dụng để gây phức tạp về an ninh – trật tự”.

(Không để dân bị xúi giục tụ tập biểu tình -Vietnamnet)

Lời phát biểu của ông Thảo có một ý cũ và một ý mới nhưng đều khó chấp nhận.

Nói về ý mới, ông Thảo cho rằng, vừa qua, những người nông dân khiếu kiện về đất đai bị lợi dụng tham gia vào cuộc biểu tình chống Trung Quốc để gây phức tạp về an ninh – trật tự.

Ai xúi giục, lôi kéo họ đây? Họ biểu tình chống Trung Quốc là trách nhiệm công dân của họ. Không thể nói những người dân oan không có tình yêu đối với Tổ quốc. Việc họ bị cướp đất, đi đấu tranh đòi quyền lợi và việc đi biểu tình chống Trung Quốc là hai chuyện khác nhau. Cảm phục những người nông dân vừa bị cướp đất, vừa bị đánh mà vẫn không quên trách nhiệm của một con dân nước Việt.

Còn ý cũ, vẫn là những luận điệu mà chính quyền, báo chí nói ra rả từ hơn một năm nay. Đó là việc gán cho những người biểu tình bị thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị lợi dụng, lôi kéo, kích động.

Nói thế, ông Thảo đã đứng ở vị trí bề trên mà nhìn xuống dưới, coi thường những người biểu tình. Ông làm như thể họ là những người không hiểu biết nên dễ bị lợi dụng, còn ông mới là người kiên định. Nói thế là ông đã xúc phạm đến họ. Họ không còn là bầy cừu để cho kẻ khác chăn dắt.

Xin hỏi ông, tại sao ông không lợi dụng họ mà lại nhường sân cho cái thằng vô hình nào đó. Trong tay ông có đủ hệ thống đảng và chính quyền đến tận tổ dân phố, một bộ máy tuyên truyền bằng báo chí, bằng hệ thống loa phường, bằng những buổi huấn thị, lên lớp công khai và cả một bộ máy cảnh sát, an ninh khổng lồ giám sát nhất cử nhất động của từng người dân. Vậy mà các ông lại không lợi dụng được họ mà để mấy thằng thù địch chẳng biết mắt ngang mũi dọc thế nào nó lợi dụng mất. Nói như vậy, có phải là ông đã thừa nhận là ông thua kém chúng nó không?

Và, khi ông nhận xét về những người biểu tình như thế, khi ông chủ trương không để dân bị xúi giục tụ tập biểu tình, ông có nghĩ rằng ông đang bị Trung Quốc nó lợi dụng không?

Người dân có đủ tai, mắt để nghe những lời nói phải, để nhìn xem ai là người làm được những gì cho họ và cho đất nước, ai là kẻ đang phá hoại đất nước, phá hoại cuộc sống và tương lai của họ.

13/7/2012

NTT

 

Khẩu thơ Thái Bá Tân

MẮNG CON

Mày láo, dám khuyên bố
Mai không đi biểu tình.
Chuyện ấy có nhà nước,
Không liên quan đến mình.

Mày nói y như đảng.
Không liên quan thế nào?
Nước là của tất cả,
Của mày và của tao.

Biểu tình chống xâm lược,
Chứ có lật ai đâu.
Không lẽ mày không biết
Cái dã tâm thằng Tàu?

Mày bảo có nhà nước.
Nhà nước hèn thì sao?
Mà ai cho nhà nước
Quyết việc này thay tao?

Xưa đánh quân Mông Cổ,
Vua còn hỏi ý dân.
Sao không thấy nhà nước
Xấu hổ với vua Trần?

Đành rằng thế mình yếu,
Phải thế nọ, thế này.
Nhưng ở đời, con ạ,
Mềm nắn, rắn buông ngay.

Bố biết con thương bố,
Lo cho bố, cảm ơn.
Con “biết sống”, có thể.
Xưa bố còn “biết” hơn.

Chính vì khôn, “biết sống”,
Tức ngậm miệng, vờ ngây,
Mà thế hệ của bố
Để đất nước thế này.

Ừ, bố già, lẩn thẩn,
Nhưng vẫn còn là người.
Mà người thì biết nhục,
Biết xấu hổ với đời.

Mai biểu tình, thế đấy.
Bố không bắt con đi,
Nhưng cũng đừng cản bố.
Cản cũng chẳng ích gì.

Hà Nội, 7. 7. 2012 

TỰ BẠCH

Nói thật với các bác
Điều vẫn giấu xưa nay.
Sẽ khối anh nhảy cẫng,
Mắng thế nọ thế này.

Nhẫy cẫng thì nhảy cẫng.
Việc họ làm cứ làm.
Tôi chưa hề, thú thật,
Tự hào người Việt Nam.    

Tôi đi bốn mươi nước,
Làm gì và đi đâu
Liên quan đến cái xấu,
Tôi bảo tôi người Tàu.

Một lần ở nước Bỉ,
Ngủ với một em Tây.
Nó bảo: Tàu giỏi quá!
Tôi suýt nói: Việt đây!

Duy nhất chỉ lần nọ,
Ở Havard, người ta
Khen tiếng Anh tôi giỏi.
Tôi đáp: Việt Nam mà.

Chứ nói chung là nhục.    
Nhục phải làm thằng dân
Một nước giỏi nói phét,
Lãnh đạo thì ngu đần.

Riêng hai chữ “cộng sản”
Đã đủ nói phần nào.
Làm thằng dân cộng sản
Có gì mà tự hào?

Mà tự hào sao được
Khi mấy triệu dân ta
Vượt biên, thà chết biển
Hơn phải chết ở nhà!

Tự hào là yêu nước.
Yêu nước phải biểu tình.
Mà biểu tình nó oánh.
Quân ta oánh quân mình.

Tóm lại là nhiều lắm.
Ngẫm là sẽ thấy ngay
Rằng tôi nói cũng đúng
Cái điều khó nói này.

Tôi là người yêu nước,
Cả lời nói, việc làm,
Và là người trước hết
Tự hào người Việt nam

Khi dân ta được nói,
Được mặc đẹp, ăn no,
Không phải hô khẩu hiệu,
Nôm na là tự do.

Lúc ấy thì chắc chắn
Cả khi ngủ với Tây,
Tôi cố gắng ngủ tốt,
Rồi nói: Việt Nam đây!

PS.

Nhớ năm mười chín tuổi,
Có một em rất xinh,
Người Chile, Nam Mỹ,
Tự nhiên nó mê mình.

Nó cho trèo lên bụng.
Ừ, cho trèo thì trèo.
Nhưng mà rồi thất bại.
Nhìn mặt nó buồn thiu.

Còn tôi thì thấy nhục,
Vì đó là lần đầu
Được biết mùi phụ nữ,
Mà biết đếch gì đâu.

Em ấy nghĩ người Việt
Đánh thằng Mỹ giỏi sao,
Nên muốn thử để biết
“Chuyện ấy” giỏi thế nào.

Thế mà tôi thất bại.
Mất sĩ diện quốc gia.
Muốn chui mẹ xuống đất,
Vừa nhục vừa xót xa.

Vấn đề là quốc thể,
Chứ không phải cá nhân.
Cũng tại do tôi ngốc,
Sau mới ngộ ra dần.

Rằng mình thua là phải.
Chưa thi đấu sân mình
Đã đòi đá quốc tế
Để cho tụi nó khinh.

Âu cũng là bài học
Cho thế hệ cháu con:
Đánh Tây là phải thắng,
Quyết một mất, một còn.

Chỉ riêng cái chuyện ấy
Tôi không hề tự hào
Làm thằng trai nước Việt.
Các bác biết vì sao.    

Hà Nội, 13. 7. 2012

NÓI VỚI CHÁU RỂ

Người viết: Thái Bá Tân    
12/07/2012 

1
Mày rót bác cốc nước,
Rồi bác nói điều này.
Năm ngoái bác phản đối,
Không cho cháu lấy mày.

Vì sao ư? Đơn giản
Vì mày là công an.
May, giờ bác vẫn thấy
Mày ngoan, hoặc còn ngoan.

Công bằng ra mà nói,
Công an cũng chẳng sao.
Hơn thế, còn cần thiết,
Nhưng chẳng hiểu thế nào

Giờ lắm đứa tệ quá,
Đạp vào mặt người ta,
Còn giở các trò bẩn,
Đánh đập cả đàn bà.

Giả sử, mai “dự án”
Nó cướp đất nhà mày,
Mày có để lặp lại
Vụ Vân Giang gần đây?

Vợ mày đang có chửa.
Bác mừng cho chúng mày.
Nếu có đứa đạp nó,
Mày sẽ nghĩ sao đây?

Lại nữa, bác bị bắt,
Mày cứ nói thật lòng,
Người ta bảo mày bắn,
Mày có bắn bác không?

Mà bác thì mày biết,
Như mấy lão nông dân,
Làm sao mà “thù địch”,
Mà “phản động”, vân vân.

Nói thật cho mày biết,
Bác yêu đất nước này,
Người Vân Giang cũng vậy,
Hơn gấp vạn chúng mày.

Vứt mẹ cái khẩu hiệu
Còn đảng là còn mình.
Thế mai kia đảng chết,
Không lẽ mày quyên sinh?

Bác là người ngoài đảng.
Mày vào đảng, không sao,
Miễn là mày thực sự
Vì quốc dân, đồng bào.

Mày thừa biết chúng nó,
Cái bọn “vì nhân dân”
Đang ăn cướp trắng trợn,
Pháp luật chúng đếch cần.

Sống ở đời, cháu ạ,
Có nghề mới có ăn.
Làm công an cũng được,
Nhưng phải nhớ vì dân.

Mà dân là bố mẹ,
Là bác, là vợ mày.
Chứ mày nghe bọn xấu
Làm ngược lại là gay,

Là có tội, cháu ạ.
Chưa nói chuyện ở đời
Có cái luật nhân quả,
Tức là luật của trời.

Nhân tiện đây bác kể,
Chỗ bác cháu thân tình,
Một câu chuyện của Phật,
Cháu nghe mà ngẫm mình.

2
Có nhân thì có quả.
Đó là luật của Trời.
Cũng là luật của Phật,
Ứng nghiệm với mọi người

Một lần, khi giảng pháp,
Với tôn giả, sư thầy,
Phật Thích Ca đã kể
Một câu chuyện thế này.

Có một con bò nọ,
Nhân khi vắng người chăn,
Đã xuống ăn ruộng lúa
Của một người nông dân.

Ông này rất độc ác,
Tức giận, mắng con bò:
“Tao vất vả, nhịn đói,
Mà mày thì ăn no.

Mày phải trả giá đắt.
Tao sẽ cắt lưỡi mày,
Để mày phải ghi nhớ
Không ăn lúa từ nay.”

Nói đoạn, ông cắt lưỡi
Con bò này đáng thương.
Nó không hiểu, nghĩ lúa
Là loại cỏ bình thường.

Còn ông nông dân ấy
Sau sinh ba người con,
Tất cả đều khỏe mạnh,
Cả thể xác, tâm hồn.

Có điều cả ba đứa
Không ai hiểu vì sao
Câm, suốt ngày lặng lẽ,
Không nói được tiếng nào.

Các thầy thuốc bất lực.
Ông bố thì buồn lo.
Và rồi ông chợt nhớ
Chuyện xưa cắt lưỡi bò.

Giờ hối thì đã muộn.
Ở lành thì gặp hiền.
Sống ác thì gặp ác.
Mọi cái có nhân duyên.

“Đời là thế, – Phật nói. –
Xưa nay chưa có người
Thoát được luật nhân quả.
Bởi đó là Luật Đời.”

Theo blog TBT

Sự kỳ diệu của Việt Nam chấm dứt

Đã là quá đủ cho câu chuyện thành công tiếp theo ở châu Á

Tác giả: Geoffrey Cain

Người dịch: Đan Thanh 11-7-2012.

Thành phố Hồ Chí Minh – Tại cái nơi đã từng là một trong những thị trường đang nổi lên sôi động nhất châu Á, Nguyen Van Nguyen chỉ nhìn thấy phía trước là bầu trời ảm đạm. Kể từ năm 2008, công ty của ông ở thủ phủ kinh tế miền nam Việt Nam đã trải qua hai lần lạm phát rất đột ngột, đạt đỉnh vào tháng 8-2011 ở mức 23% – là mức lạm phát cao nhất châu Á vào thời điểm đó. Giờ đây, đề tự bảo hiểm trước rủi ro giá cả, ông chỉ nhận những đơn đặt hàng nhỏ từ nước ngoài cho nhà máy của mình – Bình Minh – nhà máy sản xuất mành trúc ở TP.HCM, từng một thời thịnh vượng. Ông bảo rằng khách hàng ở Australia, châu Âu, và Mỹ đều đã giảm bớt số đơn đặt hàng, sau khi nhu cầu toàn cầu suy thoái. Chi phí sản xuất trong ngành đã tăng xấp xỉ 30%, trong khi khách hàng chỉ còn sẵn sàng trả thêm chừng 10% nữa – theo ông Dang Quoc Hung, phó chủ tịch Hiệp hội Thủ công Mỹ nghệ và Đồ Gỗ ở TP.HCM. Ông Nguyen cũng thuê ít công nhân hơn cho mùa cao điểm là những tháng hè, và giảm lương của họ từ 200 USD xuống còn khoảng 120 USD/tháng. “Chúng tôi chỉ có thể làm chầm chậm thôi, mọi việc bây giờ khó khăn lắm” – ông than vãn như vậy hồi cuối tháng 6.

Đảng Cộng sản Việt Nam muốn các nhà đầu tư nhìn nhận những trường hợp như của ông Nguyên chỉ đơn giản là tác động tức thời ở địa phương của suy thoái kinh tế toàn cầu, chứ không phải là một sự suy yếu đi của cả hệ thống. Trong hai thập niên kể từ khi Đảng thiết lập cải cách kinh tế vào năm 1986, tăng trưởng GDP hàng năm đạt mức trung bình ấn tượng 7,1%. Quả thật, bốn năm về trước, Việt Nam có vẻ như là câu chuyện thành công tiếp theo ở châu Á. Trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, các nhà lãnh đạo của đất nước này cam kết sẽ còn làm tốt hơn, đẩy nhanh tốc độ một tiến trình khổng lồ – tái cơ cấu và tư hữu hóa các doanh nghiệp nhà nước làm ăn tốn kém của họ – tiến trình này được gọi tránh đi là “cổ phần hóa”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế hồi năm 2007 dự đoán rằng, một trong các kết quả của việc gia nhập WTO là nhập khẩu rẻ hơn, có thể kìm giữ lạm phát, và cải cách cơ cấu có thể san bằng sân chơi giữa các đối thủ cạnh tranh nước ngoài và sở tại. Nhưng tại chuyến thăm của bà Hillary Clinton tới Hà Nội vào đầu tuần này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bị buộc phải rơi vào thế phòng vệ, phải hứa hẹn các điều kiện ưu đãi cho giới đầu tư nước ngoài, khi ông cố gắng duy trì “phép màu Việt Nam”.

Trong thập niên vừa qua, tiền công lao động tăng lên ở Trung Quốc đưa đến kết quả là những ngày họ đóng vai trò “công xưởng của thế giới” không còn bao lâu. Một Việt Nam ổn định, với lực lượng lao động trẻ tuổi và rẻ tiền, cơ sở hạ tầng tiện lợi, dường như là sự lựa chọn hợp logic tiếp sau Trung Quốc. Đầu tư nước ngoài tràn vào trong suốt những năm giữa thập niên 2000, với vốn ròng tăng hơn ba lần, đạt 9,6 tỷ USD vào năm 2008 so với hai năm trước đó. Việt Nam là “con hổ châu Á tiếp theo đang thành hình”, Goldman Sachs bảo vậy. Ông Edmund Malesky, một nhà kinh tế chính trị ở ĐH California, San Diego và chuyên sâu nghiên cứu về Việt Nam, nói: “Các nhà đầu tư nước ngoài không quan tâm đến năng lực điều hành của chính phủ hay là chính sách. Họ chỉ bị thu hút bởi động lực là tiền công lao động rẻ”.

Nhưng rồi té ra phớt lờ chính trị lại là một sơ suất tốn kém. Rất ít doanh nhân dự đoán được tình hình Việt Nam năm 2012: một đất nước phải vật lộn với đồng nội tệ yếu, lạm phát, quan liêu, chủ nghĩa tư bản thân hữu dẫn đến lãng phí hàng tỷ USD, và là đất nước có một chính phủ ra các quyết định như xây cảng, xây đường ở những nơi rất kỳ cục mà hầu như không có giá trị kinh tế.

Mọi thứ bắt đầu đi xuống khi Việt Nam khởi động một chương trình mở rộng tín dụng nội địa, trị giá 100 tỷ USD, từ năm 2007 tới năm 2010. Do cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, chương trình càng được tăng tốc. Thay vì hướng đến các doanh nghiệp tư nhân, chính phủ lại chuyển các quỹ tới tay những doanh nghiệp nhà nước có mối quan hệ về chính trị. Các đơn vị đó sử dụng vốn này để bành trướng mạnh mẽ vào những lĩnh vực ngoài ngành nghề chuyên môn của họ, tạo ra nhu cầu ngày càng tăng về nguồn lực và dẫn đến lạm phát. Sẵn lắm tiền mặt, họ đã có thể loại bỏ những đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn nhưng lại hiệu quả hơn. Hãng đóng tàu quốc doanh khổng lồ Vinashin, nơi tuyển dụng khoảng 60.000 công nhân và cai quản 28 xưởng đóng tàu, chia thành gần 300 đơn vị, gồm cả cơ sở sản xuất xe máy, khách sạn. Trước đó họ đã nhận được thêm 1 tỷ USD từ các nhà đầu tư quốc tế, trong năm 2007. Giới chức lãnh đạo hy vọng nó sẽ là lực kéo tăng trưởng kinh tế, giống như các tập đoàn (công-lô-mê-rát) nửa công nửa tư nhân của Hàn Quốc.

Nhưng, vào năm 2010, Vinashin bị phát hiện là đã làm giả chứng từ tài chính, và tập đoàn gần như sụp đổ vì khoản nợ trị giá 4,4 tỷ USD, cả với chủ nợ trong nước lẫn quốc tế. Con số này tương đương gần 5% GDP. Cuối cùng Vinashin vỡ nợ một khoản 400 triệu USD của Credit Suisse. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – người hậu thuẫn cho Vinashin bởi đó là dự án ưa thích của ông, dự án trung tâm của nền kinh tế do nhà nước điều hành – buộc phải xin lỗi Quốc hội trong một phiên tự phê bình rất đau đớn. Các đối thủ của Dũng, khi tìm cách bảo vệ lợi ích riêng của công ty mình và chỗ đứng chính trị của mình, đã tìm ra con dê tế thần: Tháng 3, chính quyền kết án 8 nhân viên điều hành. Nhưng thay vì đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa nhiều hứa hẹn mà chậm chạp thê thảm, được khởi động suốt từ những năm 1990, thì chính quyền giấu nhẹm mọi sự thất bại của họ.

Chính phủ bắt đầu kiểm soát thiệt hại, từ chối bảo trợ cho khoản 400 triệu USD vay từ Credit Suisse trong khi Vinashin vẫn không chịu cởi mở thông tin với giới chủ nợ châu Âu. Phản ứng trước khủng hoảng, Moody hạ điểm tín dụng chủ quyền của Việt Nam một điểm, từ B1 xuống Ba3, đánh dấu “rủi ro tín dụng cao” dưới điểm về đầu tư.

Theo một số biên tập viên ở vài tờ báo quốc doanh, được phỏng vấn năm 2011, thì các vụ sụp đổ tương tự Vinashin khác cũng đã xảy ra, nhưng mạng lưới mánh mung bí mật cho phép họ che giấu sổ sách chứng từ thua lỗ trong nhiều năm. Vào tháng 5-2012, một cuộc điều tra của chính phủ cho thấy tập đoàn đóng tàu quốc doanh Vinalines đã vỡ nợ đối với 4 khoản nợ, trị giá 1,1 tỷ USD, và nợ lũy tiến 2,1 tỷ USD, gấp hơn bốn lần tài sản của họ. Kể từ tháng 2, đã có 4 nhân viên điều hành bị bắt vì quản lý yếu kém nguồn lực nhà nước; trong khi đó thì chính quyền đang truy nã vị cựu chủ tịch của hãng này (đã bỏ trốn).

Giới đầu tư ngoại quốc, đối diện với chi phí lao động và nguyên vật liệu tăng cao, bắt đầu lo sợ rằng Việt Nam đang mất đi lợi thế giá thấp. Bốn nhà đầu tư nước ngoài than phiền trong các cuộc phỏng vấn diễn ra hai năm qua, rằng các doanh nghiệp quốc doanh đã lạm dụng địa vị “người gác cổng trong nghề” có mối liên hệ mật thiết tới chính phủ. “Họ là ung nhọt” – môt luật sư kinh doanh người Mỹ ở TP.HCM nói. “Chẳng ai muốn dây dưa với đám ấy”.

Trong khi giới chức Việt Nam đang cố gắng đảm bảo với các nhà đầu tư rằng thời điểm tồi tệ nhất đã qua, thì một báo cáo kiểm toán nhà nước phát hành hồi đầu tháng 7 tiết lộ rằng ít nhất 30 doanh nghiệp nhà nước lớn khác cũng đang mắc những gánh nợ rất đáng lo ngại. Vấn đề sâu xa hơn nữa là ở Việt Nam, không giống như ở Trung Quốc, giới tinh hoa trong Đảng Cộng sản không ảo tưởng gì về chuyện chia lợi lộc với tư nhân, đặc biệt là doanh nhân nước ngoài. Ở Trung Quốc, nhìn chung đảng giữ tính cạnh tranh của thị trường bằng cách bảo vệ doanh nghiệp tư nhân, cải thiện chất lượng điều hành của chính phủ, tư nhân hóa khoảng 90.000 doanh nghiệp trị giá hơn 1,4 nghìn tỷ USD từ năm 1998 đến năm 2005, và gần đây là tiến hành thanh trừng các tay mao ít mới như Bí thư Tỉnh ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai. Giới lãnh đạo Việt Nam thì vẫn chưa xác định được phải sửa chữa, điều chỉnh nền kinh tế của mình như thế nào mà không phải từ bỏ một số hình thức kiểm soát về chính trị nào đó – một bước mà họ không muốn tiến hành.

Thay vì làm sạch đống mạng nhện giữa các doanh nghiệp nhà nước với những chính trị gia bảo hộ cho chúng, thì các tay chơi quyền lực lại tổ chức nhiều chiến dịch chống lại tầng lớp doanh nhân mới giàu (nouveau riche) kiêm đại biểu quốc hội. Hồi cuối tháng 5, Quốc hội bỏ phiếu với tỷ lệ 96% thuận để bãi nhiệm bà Đặng Thị Hoàng Yến – một trong chỉ một số rất ít trùm kinh doanh có chân trong cơ quan lập pháp mà không phải đảng viên – vì tội khai man lý lịch.

Thật ra tội đúng của bà Yến là: liên tục kêu gọi đối xử bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân, vốn dĩ chiếm gần nửa nền kinh tế. “Dọn sạch cả căn nhà thì quá nhiều so với khả năng xử lý của hệ thống” – ông David Brown, một nhà cựu ngoại giao của Mỹ tại Hà Nội, nhận xét.

Tới tháng 6, việc chính phủ thắt chặt tín dụng góp phần hạ lạm phát từ 23% tháng 8 năm ngoái xuống còn 6,9%. Chủ sở hữu các nhà máy nhỏ như nhà máy của ông Nguyên, than thở rằng vấn đề bây giờ là làn sóng tín dụng dễ dãi đã làm tăng nguy cơ khủng hoảng ngân hàng. Sa hai vụ sụp đổ doanh nghiệp nhà nước rất nặng nề, chính phủ đã đi đến lúc thừa nhận rằng hệ thống tài chính có vấn đề gì đó sai căn bản. Giám đốc Ngân hàng trung ương của Việt Nam, ông Nguyễn Văn Bình, có nói hồi đầu tháng 6 rằng khoảng 10% nợ của các ngân hàng Việt Nam là nợ xấu. Thay vì cải cách nền kinh tế, chính phủ đang đề xuất nhiều thứ cũng tương tự như cũ: Một kế hoạch là thành lập cơ quan quản lý tài sản quốc gia, với 4,8 tỷ USD để thanh toán nợ. Nhưng điều đó có nghĩa là lập ra một cơ quan hành chính quan liêu mới, nằm kẹt trong mạng lưới bảo trợ giữa các thành viên cao cấp trong đảng, ngân hàng và doanh nghiệp.

Các nhà đầu tư cũng đã than phiền về gánh nặng quá lớn do nạn quan liêu gây ra, và nhiều nhà đầu tư giờ đây bắt đầu nghĩ đến việc chuyển sang Indonesa, Bangladesh và Myanmar – Denny Cowger, một luật sư làm cho Duane Morris, công ty luật của Mỹ có văn phòng ở Hà Nội và TPHCM, nói. Trong Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, năm 2011 và 2012, Việt Nam tụt sáu bậc xuống vị trí 65, do luật lệ phiền toái, lạm phát, thâm hụt ngân sách, và cơ sở hạ tầng không tốt (báo cáo đánh giá cao Việt Nam do có thị trường lao động tương đối hiệu quả và có “tiềm năng đổi mới sáng tạo”).

Trong khi đó, khu vực nhà nước tiếp tục ngốn tới 40% GDP. “Vấn đề chính yếu là Việt Nam phải tiến hành một số cải cách kinh tế về căn bản trong nước, để duy trì được tính cạnh tranh” – ông Carl Thayer, giáo sư danh dự tại ĐH New South Wales, nói. “Có nhiều khả năng là giới lãnh đạo Việt Nam sẽ sử dụng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như lời biện hộ cho những thứ tương tự”.

Nguồn: Foreign Policy

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012