ĐỪNG NGHI NGỜ NHÂN DÂN NỮA!…

… HÃY CÙNG NGƯỜI BIỂU TÌNH THỂ HIỆN KHÍ THẾ CHỐNG TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC BIỂN ĐẢO VN
 
 
Quân bành trướng gọi thầu sát ngay bờ biển từ Quảng Ngãi đến Phan Thiết rồi. Bây giờ các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước (nhất là mấy ông ở ngành Tuyên huấn) đừng nghi ngờ đổ oan cho người biểu tình yêu nước nữa! Quốc Hội thông qua Luật Biển Việt Nam rồi. Bộ Ngoại giao cực lực lên án Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của nước ta rồi. Vậy bây giờ người dân tập hợp tuần hành biểu thị thái độ ủng hộ Luật Biển VN vừa được Quốc Hội thông qua, ủng hộ Tuyên bố của Bộ Ngoại giao VN lên án Trung Quốc trắng trợn xâm phạm chủ quyền VN. Ngành an ninh Thủ đô nếu theo dõi sát tình hình, đề nghị các vị hãy có sự chuyển biến, đừng  nghi ngờ đổ tiếng ác cho người biểu tình yêu nước chống TQ xâm lược nữa! Đừng đem xe buýt và CSCĐ đến, hãy khuyến khích, tỏ thiện chí với người biểu tình ủng hộ Luật Biển VN! Cần lắm những phong trào nhân dân bày tỏ quyêt tâm bảo vệ chủ quyền đất nước. Kẻ thù rình rập ngoài biên mà bên trong ta hắt hủi nặng tay xử lý với đồng bào mình, về đạo lý là không xuôi thuận, mà quân bành trướng nó chê cười cho chứ chẳng phải hay ho gì! Hãy vui vẻ thân thiện với người biểu tình yêu nước đi! Bao giờ Tổ Quốc mới cần đến nhiệt tình yêu nước hơn lúc này nữa?
Hãy thể hiện lòng yêu nước, cùng những người biểu tình chống bành trướng Trung Quốc gây hấn xâm phạm biển đảo VN!
NGẠN XUYÊN
27-6-2012
Nguồn: Trang của chú NGÔ ĐỨC THỌ
 
 
Advertisements

Vài ý về sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Nguyễn Trung

 Ghi lại phát biểu trong cuộc họp bàn về sửa đổi Hiến pháp ngày 24-03-2912
 của viện Những Vấn Đề Phát Triển (VIDS),  Hanoi ,
có bổ sung để làm rõ thêm một số vấn đề mà thời gian trình bày có hạn, chưa đề cập đến được. 

Xin cảm ơn VIDS cho tôi cơ hội nói lên vài suy nghĩ trong buổi thảo luận hôm nay về đề tài quan trọng này. Sửa đổi Hiến pháp là việc hệ trọng của một quốc gia. Tôi không hiểu nhiều về Luật, chỉ xin có vài ý kiến về vấn đề này từ góc độ một công dân đảng viên, mà những điều tôi sẽ trình bày liên quan mật thiết đến Đảng. Xin nói rõ ra như thế, vì tất cả chúng ta ngồi đây đều là công dân đảng viên già, từ lâu đã đứng sang bên lề cuộc sống. 

I – Quyền phúc quyết của nhân dân là tất yếu

Trong cuộc sống của nhiều quốc gia trên thế giới, việc có Hiến pháp mới hay sửa đổi Hiến pháp chỉ trở thành một đòi hỏi không thể thiếu được khi quốc gia ấy có một bước ngoặt phát triển, ví dụ như một chế độ chính trị mới thay thế chế độ cũ (Hiến pháp Việt Nam năm 1946), đảo chính (đã từng xảy ra nhiều lần ở Thái Lan và nhiều nước khác…), hay là quốc gia chuyển sang một giai đoạn, một thời kỳ phát triển mới, hoặc đứng trước một hay nhiều vấn đề trọng đại mới…

Nêu lên như vậy, ý đầu tiên và trước hết tôi muốn nhấn mạnh việc sửa đổi Hiến pháp chỉ đạt được mục đích của nó một khi coi việc sửa đổi này là một việc làm thực chất, không phải là làm hình thức, để soạn thảo được một Hiến pháp mới bảo đảm được 2 yêu cầu:

(1)  đáp ứng những đòi hỏi mới của quốc gia,
(2)  có những điều luật bảo đảm tính ràng buộc và tính thực thi cao của Hiến pháp.

Để đạt được cả 2 yêu cầu nêu trên, sự tham gia có chất lượng của nhân dân là tất yếu.

Muốn xây dựng được nhà nước của dân, do dân, vì dân, thì việc xây dựng Hiến pháp mới lại càng phải có sự tham gia nêu trên của dân, để Hiến pháp mới tạo ra được những tiền đề tất yếu cho việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đồng thời Hiến pháp mới cũng phải tạo ra được những chuẩn mực ràng buộc về quyền và trách nhiệm của mỗi công dân trong đời sống mọi mặt của đất nước – nhất là trong nhiệm vụ xây dựng đất nước và trong nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc ngày nay.

Nói một cách khác: Đó là cần làm mọi việc để kết quả cuối cùng sẽ có được một Hiến pháp mới cũng phải đạt tiêu chuẩn là Hiến pháp của dân, do dân, vì dân.

Đặt vấn đề như vậy, quyền phúc quyết của công dân là tất yếu, cần làm mọi việc để mọi công dân có những điều kiện tốt nhất thực hiện được quyền tất yếu này với chất lượng cao. Ít nhất, người dân phải được thông tin đầy đủ và được cung cấp những hiểu biết cần thiết về những vấn đề hệ trọng đặt ra cho đất nước mà do đó dẫn tới đòi hỏi phải sửa đổi Hiến pháp lần này. Đặc biệt cần tập trung làm rõ những điều chính yếu cần sửa đổi và cần lấy ý kiến nhân dân nên sửa như thế nào.

Nếu Đảng và Nhà nước không quyết tâm thực hiện đầy đủ quyền của phúc quyết của nhân dân như trình bày trên cho việc sửa đổi hiến pháp lần này, hoặc chỉ muốn thực hiện quyền này cho đủ lệ bộ dân chủ … thì không nên đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp làm gì nữa. Vì như thế chỉ tốn kém vô ích công sức của dân và sẽ tiếp tục đưa đất nước đi xuống.   

II – Sửa đổi Hiến pháp phải gắn với đổi mới Đảng  

Một thực tế khách quan hiện nay là hệ thống nhà nước ta nằm trong hệ thống chính trị do một đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền. Như thế, việc sửa đổi Hiến pháp liên quan mật thiết đến vấn đề đổi mới Đảng

Không thể xây dựng được một Hiến pháp mới đúng với đòi hỏi của đất nước hiện nay, hoặc nhờ một cơ may trời cho nào đó nếu xây dựng được, thì nó cũng không thực thi được, nếu như không đồng thời tiến hành đổi mới Đảng sao cho phù hợp với Hiến pháp mới. Xin đừng quên những điểm tốt trong Hiến pháp 1992 có nhiều, nhưng không thực thi được bao nhiêu, chính vì nguyên nhân này.

Đòi hỏi trên là bắt buộc đối với Đảng, bởi vì ngay trong Điều 4 của Hiến pháp hiện hành cũng ghi: mọi hoạt động của Đảng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và Luật. Chưa nói đến nghĩa vụ trước hết và trên hết của đảng viên là phải là thực hiện nghĩa vụ công dân. Điều lệ Đảng bắt buộc đảng viên phải gương mẫu, cũng có nghĩa là đảng viên trước hết phải phấn đấu là công dân gương mẫu.[1] Hiến pháp thay đổi, thì Đảng cũng phải thay đổi.

Mặt khác, sửa đổi cách làm và nội dung chỉnh đốn – xây dựng Đảng cũng đang trở thành đòi hỏi bức xúc hiện nay đối với Đảng, đối với đất nước. Nhiều Đại hội trước đây đã cảnh báo về tình trạng yếu kém và tha hóa nghiêm trọng trong Đảng, nhưng chưa có chuyển biến gì. Hội nghị Trung ương 4 khóa này một lần nữa lại cảnh báo, nói rõ tình trạng tha hóa này đã đến mức đe dọa sự tồn vong của Đảng và của chế độ chính trị. Những điều vừa trình bày cho thấy trong hệ thống chính trị hiện tại của đất nước việc sửa đổi Hiến pháp và việc đổi mới Đảng khách quan đòi hỏi phải được thực hiện gắn với nhau. Đất nước đang ở trong tình hình cả hai việc quan trọng này không thể trì hoãn được.

Đất nước – bàn cụ thể ở đây là là nhà nước – phát triển ngày càng cao hơn, Hiến pháp mới tất nhiên phải đáp ứng được yêu cầu này. Tất yếu sẽ có vấn đề: Làm thế nào thể hiện rõ được trong Hiến pháp mới này đòi hỏi ở Đảng cũng phải có năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và có trách nhiệm ràng buộc được nâng cao lên theo tầm Hiến pháp mới?

Nói về Đảng, chỉ riêng một đòi hỏi nêu trên đủ cho thấy đảy mạnh tự phê bình và phê bình về phẩm chất đạo đức đảng viên như đã nêu trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 – tuy là rất cần thiết, giả thử thực hiện được tốt đi nữa, nhưng cũng hoàn toàn không đủ. Vẫn còn thiếu một vế quyết định: Cần phải sớm bổ sung việc đảng viên phải thường xuyên kiểm điểm vai trò lãnh đạo, kiểm điểm vai trò cầm quyền của Đảng, kiểm điểm trách nhiệm ràng buộc của Đảng đối với đất nước – trước hết là đối với Hiến pháp.

 Duy nhất là đảng lãnh đạo và đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị, đương nhiên Đảng cần phân tích thấu đáo xem những nguyên nhân gì dẫn đến Hiến pháp hiện hành không được thực thi đúng đắn, trong khi đó hiện tượng tha hóa trong Đảng đã đến mức nguy hiểm như đã được hội nghị Trung ương 4 đánh giá. Không thể tránh né việc làm rõ cái nào là nguyên nhân của cái nào, nguyên nhân và hệ lụy lẫn nhau ra sao, những hệ quả đối với nhân dân và đối với đất nước, đối với sự nghiệp của Đảng, những kết luận và những quyết định cần rút ra…

Cần nhấn mạnh: Đảng giữ cho mình quyền lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, do đó tất yếu Đảng cũng phải chịu trách nhiệm tuyệt đối và toàn diện về tình trạng Hiến pháp hiện hành không được thực thi nghiêm túc. Vì dân, vì nước thì phải nhận chịu trách nhiệm như thế.

Ngay tức thời, lãnh đạo Đảng cần phải có quyết tâm và đủ trí tuệ sớm  xác định những nguyên nhân dẫn tới những yếu kém nêu trên, để từ đó mới có khả năng xác lập ngay sự lãnh đạo đúng đắn cần phải có của Đảng ngay trong nhiệm vụ sửa đổi Hiến pháp, đặc biệt là Đảng phải làm bằng được nhiệm vụ phát huy dân chủ và huy động trí tuệ cả nước cho việc sửa đổi Hiến pháp lần này… Không làm được như thế, không còn là lãnh đạo.

Hiến pháp thay đổi thì Đảng cũng phải thay đổi, cái nọ là tiền đề của cái kia. Đảng có thực sự đổi mới, việc sửa đổi Hiến pháp trong hệ thống chính trị một đảng mới có ý nghĩa.  Không làm như vậy công sức của dân của nước bỏ ra cho việc sửa đổi Hiến pháp sẽ vô ích.

Như vậy, trong hệ thống chính trị một đảng của nước ta hiện nay, việc sửa đổi Hiến pháp bắt buộc phải gắn với đổi mới Đảng.  

III – Sửa đổi Hiến pháp lần này cần làm rõ vai trò và trách nhiệm ràng buộc của Đảng

 Hệ thống chính trị nước ta hiện nay chỉ cho phép có một đảng duy nhất vừa là đảng lãnh đạo, vừa là đảng cầm quyền. Vậy Hiến pháp sẽ nên sửa thế nào để không trái với định đề này?

Trước hết bàn về Đảng.

Muốn đổi mới Đảng, nhất thiết phải:

(1)Viết lại nội dung Điều 4 của Hiến pháp theo hướng làm rõ nội dung và nâng cao (a) vai trò đảng lãnh đạo, (b) vai trò đảng cầm quyền, và (c) trách nhiệm ràng buộc của Đảng đối với đất nước, đối với nhà nước sao cho phù hợp với những đòi hỏi của thời kỳ phát triển mới của đất nước, phù hợp với Hiến pháp mới;

(2)Đồng thời phải xây dựng thêm, hoặc sửa đổi, hoàn thiện những Điều sẵn có khác trong Hiến pháp về các quyền và nghĩa vụ của công dân, cũng như về vai trò, quyền hạn, trách nhiệm và phương thức hoạt động của hệ thống nhà nước, về xây dựng đời sống đất nước mọi mặt… phù hợp với những đòi hỏi của thời kỳ phát triển mới, phù hợp với Hiến pháp mới, tăng cường khả năng thực thi những điều này. Có làm rõ được như vậy, sẽ làm rõ cả vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền và trách nhiệm ràng buộc của Đảng như nêu trong điểm (1).

Tất cả để đảm bảo (a) Đảng thực hiện tốt vai trò đảng lãnh đạo, vai trò đảng cầm quyền, trách nhiệm ràng buộc của Đảng đối với đất nước, được Đảng cam kết trong Hiến pháp; (b) xây dựng được một nhà nước mạnh đúng với nghĩa của dân, do dân, vì dân; (c) công dân có được quyền năng tốt nhất để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.  

Đặt vấn đề như vậy, việc sửa đổi Điều 4 trong Hiến pháp không phải là tự sát đối với Đảng như có ý kiến đã nêu lên, mà là một đòi hỏi không thể thiếu đối với đổi mới Đảng. Đảng muốn Hiến pháp thừa nhận vai trò lãnh đạo của mình đối với đất nước, thì Đảng cũng phải nhận trách nhiệm ràng buộc của mình đối với đất nước và cần được làm rõ trách nhiệm ràng buộc này bằng những điều khoản của Hiến pháp mới.

Câu hỏi mất còn đầy lo lắng hiện nay là sức sống trong Đảng đi vào thời kỳ phát triển mới này của đất nước liệu có thể thắng được sự tha hóa hiện nay trong Đảng hay không? Nói rõ hơn nữa: Liệu Đảng còn đủ sức chiến đấu để đổi mới được chính mình hay không? Đảng có đủ dũng khí dùng quyền lực và ảnh hưởng của mình lãnh đạo nhân dân phát huy dân chủ viết ra một Hiến pháp mới như thế hay không?

Xin không một đảng viên nào được phép quên biết bao nhiêu người con của đất nước, trong đó một số không nhỏ là đảng viên, đã ngã xuống dưới lá cờ của Đảng. Xin đừng bao giờ quên toàn thể nhân dân ta không phân biệt bên này bên kia, đã phải hy sinh không biết bao nhiêu xương máu, chịu đựng không biết bao nhiêu gian khổ, mất mát trên suốt chặng đường đầy mồ hôi, máu và nước mắt từ sau chiến tranh thế giới II cho đến hôm nay, và hiện tại vẫn còn những vết thương đang rỉ máu với biết bao nhiêu khổ đau khôn nói lên lời; những thách thức và khó khăn phía trước còn ngổn ngang, còn biết bao nhiêu vấn đề đau đầu trong nước đang cần lời giải… 

Hơn nữa, từng người là đảng viên còn giữ được cho mình là người yêu nước và tận tâm hết mình cho sự nghiệp của đất nước, cần hiểu rõ những thách thức khắc nghiệt phía trước đang đặt ra cho đất nước ta trong thế giới ngày nay.

Trong khi đó Đảng vẫn chưa hoàn thành được nhiệm vụ thống nhất và hòa giải dân tộc, để có sức mạnh của toàn dân tộc, để vượt qua được mọi khó khăn, chiến thắng được mọi thách thức, để dấy lên sức mạnh dân tộc chặt đứt hẳn cái quán tính lịch sử quái ác cứ giam hãm mãi gần hai thế kỷ nay dân tộc Việt Nam ta trong vòng nghèo hèn và lạc hậu như thế này so với thế giới bên ngoài.

Chẳng lẽ dân tộc Việt Nam ta chỉ có khả năng thắng được ngoại xâm nhưng không bao giờ có khả năng ngửng đầu đi lên cùng với các nước thịnh vượng? Đất nước mới độc lập chưa đầy 4 thập kỷ, nay đã phải đối mặt với những nguy cơ uy hiếp không thể xem thường. Thắng lợi vinh quang giành được độc lập thống nhất cho đất nước sẽ còn mấy ý nghĩa, nếu cuối cùng sẽ là để cho tha hóa xóa đi tất cả, cướp đi tất cả, tạo dựng nên một sự nô dịch mới?

Là đảng viên, không được phép quên: Đảng – với tính cách là đảng duy nhất của toàn hệ thống chính trị đang nắm quyền lãnh đạo, đang cầm quyền quyết định vận mệnh của đất nước – Đảng đang nợ dân tộc một trách nhiệm lịch sử. Đó là phải dựa hẳn vào dân để dấy lên trí tuệ, nghị lực và công sức của cả nước cho xây dựng thành công một thể chế chính trị dân chủ, ngõ hầu thực hiện đúng được nguyện vọng ngàn đời của nhân dân ta như đã ghi trong tiêu đề của quốc gia hiện nay: Độc lập – Tự do – Hạnh phúc!

Làm sao trang trải được gánh nợ lịch sử này, nếu như Đảng không đổi mới chính mình để đi hẳn với dân tộc – trước hết với tinh thần tổ quốc trên hết, quyền lợi quốc gia trên hết?

Cho đến hiện nay, không có lực lượng thù địch nào có thể lật đổ Đảng hay lật đổ chế độ chính trị, mà chỉ có sự tha hóa của Đảng là nguy cơ lớn nhất, nguy hiểm nhất đối với Đảng, đối với chế độ chính trị, đối với đất nước này mà thôi. Tình hình đã đến mức đúng như Hội nghị Trung ương 4 nhận định: Sự tồn tại của Đảng và của chế độ chính trị đang bị đe dọa.

Cho đến hiện nay, dựa hẳn vào dân để đi với dân tộc, Đảng vẫn hoàn toàn có khả năng chiến thắng kẻ thù nguy hiểm nhất này của mình và của đất nước. Nhưng để chậm trễ, càng tự tích tụ thêm nhiều khó khăn, sức đề kháng này sẽ mất đi nhanh chóng.

Cho đến hiện nay, nếu có được một đảng đi hẳn với dân tộc như thế, nước ta hoàn toàn có khả năng tiến hành thắng lợi sự nghiệp cải cách hệ thống chính trị từ chỗ đứng hiện tại kế thừa những thành quả đất nước đã giành được để đi tiếp. Làm như thế, sẽ tránh được cho đất nước không phải xóa đi làm lại từ đầu theo các kiểu cách mạng hoa nọ hoa kia đẫm máu mà vẫn chưa biết bao giờ mới mở được đường ra – như chúng ta đang thấy ở các nước Bắc Phi.

Indonesia đã nêu cho chúng ta một ví dụ đáng học hỏi về cải cách để kế thừa, để đổi mới và để đưa đất nước đi tiếp. Chẳng lẽ ĐCSVN không muốn hay không thể lãnh đạo nhân dân mình thực hiện một sự nghiệp như thế? Myanmar vừa qua đã làm được một bước cải cách rất đáng khâm phục – đương nhiên mới chỉ một bước, song là một bước đầu đầy hứa hẹn.

Nhân dân trong nước khát khao đã đành, cả thế giới tiến bộ ngày nay sẵn sàng hậu thuẫn cho việc thực hiện triệt để một cuộc cải cách chính trị ở nước ta. Đúng là một tình thế chưa từng có! Kể cả so với tinh thế khi Cách mạng Tháng Tám thành công, hay so với tình thế sau ngày 30-04-1975!

Cho đến hôm nay, Đảng hoàn toàn có khả năng giành thắng lợi thực hiện cuộc cải cách vỹ đại này nếu quyết tâm lựa chọn nó, hy sinh và cống hiến hết mình vì nó.

Cải cách thể chế chính trị như thế là mở đường cho đất nước ta ra khỏi tình trạng èo uột hôm nay.

Nước Nhật dưới thời Minh Trị trong nửa sau thế kỷ 19 đã từng thực hiện được một cuộc cải cách có ý nghĩa như thế, và nhờ đó chỉ trong vòng dăm thập kỷ nước Nhật đổi đời thành một quốc gia công nghiệp hùng mạnh. Đấy cũng là một nhiệm vụ chính trị mà triều đại Gia Long đã bỏ lỡ cơ hội thực hiện, để dẫn đến cái cột mốc cuối cùng là mất nước, với hệ quả đất nước lạc vào con đường long đong suốt hai thế kỷ vừa qua.

Sau khi đất nước độc lập thống nhất cho đến hôm nay, Đảng cũng đã bỏ lỡ không dưới một lần cơ hội lớn để trang trải gánh nợ lịch sử trọng đại đối với dân tộc: Lãnh đạo nhân dân thực hiện bằng được cuộc cải cách để xây dựng nên một thể chế chính trị của một đất nước thực sự do nhân dân làm chủ.   

Như vậy, kể từ nhiều Đại hội toàn quốc của Đảng từ sau đổi mới cho đến nay, chỉ có tầm nhìn bị ý thức hệ chi phối, năng lực và phẩm chất yếu kém so với nhiệm vụ đất nước đòi hỏi, cùng với sự tha hóa đang diễn ra trầm trọng trong Đảng là những thế lực thù địch nguy hiểm nhất của Đảng mà thôi. Những thế lực thù địch nguy hiểm này đang từng ngày từng giờ lặng lẽ tiêu hao sức chiến đấu của Đảng, diễn biến Đảng và cuối cùng là đang tước bỏ dần vai trò lãnh đạo của Đảng.

Tất cả những thứ thế lực thù địch khác mà Đảng nghĩ rằng mình đang phải đối mặt, mình đang hàng ngày phải cảnh  báo cho nhân dân biết.., đều quá nhỏ bé so với quyền lực và lực lượng Đảng đang nắm trong tay.

Kẻ thù lớn nhất của Đảng chính là sự tha hóa đang biến chất Đảng. Đổi mới Đảng là cách duy nhất để chiến thắng sự tha hóa này và là tiền đề cho việc thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống chính trị đã trở thành một món nợ, một trách nhiệm lịch sử Đảng nhất thiết phải trang trải.

Mong từng đảng viên ý thức đầy đủ: Nhiệm vụ cải cách thể chế chính trị như thế càng để chậm trễ, sự mai một khả năng chiến đấu của Đảng sẽ diễn ra với gia tốc ngày càng nhanh hơn và bất khả kháng hơn so với sức đề kháng của Đảng. Sống hay là chết chính là ở điểm này.  

Thiết nghĩ người đảng viên tâm huyết với gìn giữ sự nghiệp của đất nước và của Đảng, cần nhìn nhận việc sửa đổi Hiến pháp lần này là một cơ hội để thực sự đổi mới Đảng, tạo ra cho Đảng khả năng và phẩm chất giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ mà lúc này tình hình và nhiệm vụ của đất nước đang đòi hỏi hơn bao giờ hết.

Nếu còn tự coi mình là đảng cách mạng, đảng tiền phong, đảng của giai cấp và của dân tộc, Đảng có dám vận dụng mọi quyền lực và ảnh hưởng mình đang nắm trong tay để phát huy trí tuệ và nguyện vọng của toàn dân tộc, xây dựng nên một Hiến pháp mới của một nước Việt Nam độc lập – tự do – hạnh phúc mà tình hình mới hiện nay đòi hỏi, lấy Hiến pháp đó làm nền tảng đổi mới Đảng – Đảng có dám làm như thế hay không? Khỏi phải nói dân tộc này sẽ đứng với ai nếu Đảng làm như vậy!

Cách mạng và tiền phong, tính giai cấp và tính dân tộc đối với Đảng trước hết có nghĩa là thế.

Lãnh đạo với đúng nghĩa là Đảng phải trả lời rành rọt câu hỏi “dám hay không dám?” này. 

IV. Về đảng lãnh đạo và đảng cầm quyền

Trong góp ý về xây dựng Đảng từ một hai Đại hội trước, rồi đến trong góp ý chuẩn bị Đại hội XI, trong một vài hội thảo và bài viết gần đây, tôi đã trình bày những suy nghĩ của mình về vai trò lãnh đạo và vai trò cầm quyền của Đảng. Tại đây chỉ xin lưu ý tóm tắt những vấn đề cần đặc biệt quan tâm.

          Trước hết, để có được vai trò lãnh đạo, nhất thiết Đảng phải có những phẩm chất tôi tạm gói lại trong 4 yếu tố: (1) tầm nhìn, (2) quyết sách, (3) năng lực tổ chức và lãnh đạo thực hiện, (4) bản thân Đảng gương mẫu đi tiên phong trong việc thực hiện.

          Để có được vai trò đảng cầm quyền, nhất thiết Đảng phải được nhân dân chọn lọc, thừa nhận, và được giao cho nhiệm vụ với tính cách là người được cử vào hệ thống nhà nước để giữ vai trò chủ yếu trong việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước pháp quyền.

  Với tính cách được lựa chọn để cử vào, được giao nhiệm vụ như thế để làm việc trong bộ máy nhà nước, đảng cầm quyền chịu sự chi phối của nhà nước pháp quyền – trước hết là của Hiến pháp.

-Với tính cách như thế, đảng cầm quyền thực chất chỉ là một công cụ của nhà nước pháp quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ hơn: đấy là người giữ vai trò đày tớ của nhân dân. Hiến pháp và luật pháp của nhà nước là tối thượng có nghĩa là như thế.

Cần phân biệt rạch ròi 2 vai trò nói trên trong một đảng (vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền), để phấn đấu có năng lực lãnh đạo tốt, rồi để từ đó dẫn tới được nhân dân lựa chọn, được cử vào và được giao cho việc cầm quyền theo Hiến pháp và Luật.  

Trong hệ thống chính trị một đảng, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình bằng cách:

(a) phấn đấu trong môi trường xã hội công dân (còn gọi là xã hội dân sự) để xác lập vai trò lãnh đạo của mình được nhân dân thừa nhận, để từ đó được nhân dân lựa chọn, cử vào và giao cho nhiệm vụ cầm quyền,

(b) thông qua thực hiện tốt nhất vai trò đày tớ của nhân dân trong hệ thống nhà nước pháp quyền theo luật pháp của nhà nước và theo những điều mà đảng đã cam kết trước khi được nhân dân lựa chọn (bầu cử, tuyển chọn hay ủy quyền theo luật của nhà nước…) làm đày tớ.  Tiếc là ở nước ta chưa có tranh cử, dù chỉ là tranh cử trong phạm vi nội bộ Đảng.

Mọi chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng liên quan đến đất nước nếu muốn được thực hiện, nhất thiết phải thông qua dân chủ và hệ thống pháp luật của nhà nước để trở thành các quyết sách của nhà nước. Và như thế, một khi đã thành quyết sách của nhà nước, thì về mặt pháp lý nó không còn là của Đảng nữa. Cần tôn trọng điều cốt yếu này. Bởi vì nó có nghĩa quyết sách của nhà nước không chịu sự can thiệp trực tiếp của Đảng. Nói một cách khác: Đấy là phương thức Đảng không được biến chính mình thành nhà nước. Cần xác định dứt khoát như thế, để qua đó phân định rõ: Đảng làm việc của Đảng, Nhà nước làm việc của Nhà nước. Giả định rằng tình hình đòi hỏi phải có quyết sách mới cho đất nước, Đảng phải thông qua vai trò đảng cầm quyền của mình, và theo con đường của Hiến pháp và luật pháp, làm cho nó trở thành quyết sách của Nhà nước.

Một khi thực hiện được tốt cả 2 nhiệm vụ lãnh đạocầm quyền (a+b) như đã mô tả bên trên, cũng có nghĩa là ĐCSVN làm được nhiệm vụ lãnh đạo đất nước (không phải nhà nước).  Đó cũng chính là những nhiệm vụ cụ thể của thực hiện dân chủ trong một chế độ chính trị có nhà nước pháp quyền với tinh thần Hiến pháp là tối thượng trong một nước chỉ có một đảng. Thật ra mô hình này không mới, một thời ở Singapore và ở Hàn Quốc đã xuất hiện mô hình tương tự. Đó chính là thời kỳ mở đầu và dẫn đến sự phát triển như hôm nay của 2 quốc gia này.

Vậy hoàn toàn có thể viết lại Điều 4 theo những yêu cầu nói trên. Làm như thế Đảng mạnh lên, chứ không phải là tự sát! Chừng nào còn phấn đấu được như thế, Đảng sẽ còn cùng đồng hành mãi với dân tộc, là người dẫn đường của dân tộc. Đảng làm như thế, chỉ có cái tha hóa và cái tiêu cực trong Đảng bị đẩy lùi, hoặc thậm chí phải “tự sát” với nghĩa tự cải hóa, tự phục thiện..! 

Tại đây, xin nói thêm đôi điều quan sát được về sự vận động, diễn biến của một đảng chính trị trong thể chế của những quốc gia yếu kém trên thế giới:

Một đảng chính trị thiếu phầm chất và năng lực lãnh đạo, nhưng lại là một lực lượng chính trị mạnh trong nước, không được hay không thông qua nhân dân lựa chọn với đúng nghĩa (ví dụ thông qua bầu cử gian lận, giả hiệu, hình thức, mua phiếu…), bằng cách này hay cách khác giành lấy vai trò là “người dẫn dắt đất nước”, nhập cục lại làm một vai trò lãnh đạo (có nơi là vai trò chi phối) và vai trò cầm quyền để thâu tóm quyền lực, sử dụng các quyền lực và ảnh hưởng khác để duy trì vị thế nắm quyền, đặc biệt là quyền lực kinh tế.., như thế đảng ấy sẽ biến tướng thành một tổ chức chính trị, thậm chí có khi chỉ còn lại là một lực lượng chính trị – nghĩa là rất ô hợp. Trong trường hợp này, luật pháp hay Hiến pháp nếu có thì cũng không có mấy ý nghĩa đối với nó. Một số đảng còn nhân danh hay lợi dụng các tôn giáo để làm việc thâu tóm này. Một đảng chính trị thâu tóm tất cả mọi thứ như thế vào trong tay, có thể đặt cho cái tên chung là đảng nhập cục.

Một quốc gia có đảng chính trị thông qua cái nhập cục mọi thứ lại làm một để trở thành người quyết định mọi việc của nhà nước, của đất nước như thế.., tất nhiên trong thực tế đấy chỉ là đảng giành quyền, đảng nắm quyền; trong những trường hợp tồi tệ hơn là đảng chiếm quyền (ví dụ thông qua đảo chính), hoặc đảng lũng đoạn (chính quyền chỉ còn lại chủ yếu là cái vỏ bọc pháp lý)… Hệ quả của sự hình thành cái đảng nhập cục như thế tất nhiên chính nó mới là nhà nước đích thực, thường được thể hiện với sự kiêu hãnh của các chính khách nổi tiếng hay bắt chước lẫn nhau qua câu nói: “l’État c’est moi!”   

Đảng nhập cục trở thành đảng cai trị như thế, tự nó sẽ diễn biến thành một lực lượng chính trị, tiếp tục thâu tóm tất cả. Nó bỏ qua hay sẵn sàng phản bội những lý tưởng, mục đích ban đầu đã lập nên chính nó. Nó nắm quyền cai trị nhiều hơn là làm sứ mệnh lãnh đạo đất nước đi lên. Với tính cách ấy, trong quá trình cầm quyền tự nó biến thành nguyên nhân chính của những biến động hay đổ vỡ dưới hình thức này hay hình thức khác tại một số nước mà thế giới đã được chứng kiến qua những thời kỳ khác nhau.

Có thể tham khảo tình hình Indonesia thời Sukarno diễn biến như thế nào để đi vào thời Soeharto như là một trong những ví dụ điển hình để hiểu rõ toàn bộ sự vận động này.

Ba, bốn thập kỷ trước, Thái Lan có lúc rơi vào tình trạng tương tự, và đấy là một trong những nguyên nhân khiến cho đất nước này cứ một số năm lại xảy ra đảo chính, ngày nay đã tiến được những bước dài.

Sở dĩ vừa qua một số nước Bắc Phi có các cuộc cách mạng “hoa”, trước hết và về một vài mặt chính yếu cũng là do hệ quả của sự vận động và diễn biến như thế của đảng chính tri – ví dụ: đảng Tập hợp Dân chủ Hiến pháp của tổng thống Ben Alli ở Tunisia, đảng Dân chủ Quốc gia của tổng thống Mohamed Hosni Mubarak ở Ai-cập, đảng Baath của Syria, vân vân…

So sánh bao giờ cũng khập khiễng, song cái đảng nhập cục tiêu biểu nhất trên thế giới hôm nay có lẽ là đảng Lao động Triều Tiên.

Trên thế giới có không ít những đảng chính trị tốt, song câu chuyện này xin khất vào một dịp khác.

          Đối với nước ta, nêu lên sự vận động và diễn biến nói trên của đảng chính trị nói chung, dẫn đến đòi hỏi phải nghiêm túc xem xét hai vấn đề liên quan đến Đảng trong giai đoạn hiện nay của đất nước:

(1)Đảng là đảng vừa lãnh đạo, vừa cầm quyền, lại thực hiên quán triệt quan điểm lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối, nên cần nhìn nhận lại sự vận động khách quan của sự vật, để tỉnh táo đánh giá xem thực trạng hiện nay của Đảng như thế nào, từ đó định liệu những vấn đề phải khắc phục, những việc phải làm. Muốn đổi mới chỉnh đốn – xây dựng Đảng như tinh thần của Hội nghị Trung ương 4 đòi hỏi, nhất thiết phải làm việc này.

(2)Phải tạo ra như thế nào môi trường rèn luyện cho Đảng trong thời bình xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là trong tình hình Đảng nhất thiết phải lãnh đạo cả nước xây dựng một hệ thống chính trị dựa trên kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự. Phải đặt ra vấn đề này, đơn giản vì lẽ việc xây dựng một hệ thống chính trị như thế đòi hỏi phải có sự lãnh đạo sáng suốt, mà trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay chỉ có ĐCSVN là người duy nhất được làm cái quyền lãnh đạo ấy.  

Trong loạt bài “Viễn tưởng” (4 bài) các anh đã đọc, tôi đã nêu lên một số nhận xét của mình về thực trạng hiện nay của Đảng và của đất nước.

Theo những điều đã trình bày trên, tôi xin đặc biệt lưu ý: Sẽ là không đúng nếu nghĩ ĐCSVN đã là đảng lãnh đạo thì đương nhiên là đảng cầm quyền. Chính cái cho là đương nhiên này là nguồn gốc những căn bệnh chết người.

Thừa nhận có cái đương nhiên như vậy, thật ra chẳng khác gì thừa nhận có một thứ lợi tức từ một gia tài không lồ thành quả cách mạng do các thế hệ tiền bối và các thế hệ đi trước dành lại cho Đảng hôm nay; và Đảng hôm nay có quyền thừa hưởng thứ lợi tức đó! Đúng ra phải xác định: Thụ hưởng cái đương nhiên này chỉ làm sự phấn đấu của Đảng giảm sút, và đấy là một trong những nguyên nhân nguy hiểm của tình trạng tha hóa hiện nay trong Đảng.

Đổi mới xây dựng Đảng cần phân biệt rõ 2 nhiệm vụ khác nhau của Đảng nhưng đều cùng phải thực hiện rạch ròi: nhiệm vụ đảng lãnh đạo, nhiệm vụ đảng cầm quyền. Sự phân biệt này rất cần thiết cho việc khắc phục hiện tượng “đảng hóa” dẫn tới hệ quả “đảng mới là nhà nước đích thực”.

Rõ ràng cuộc sống đòi hỏi: Chỉ có xây dựng được tốt vai trò đảng lãnh đạo được thừa nhận trong xã hội dân sự; Đảng mới có đủ điều kiện được nhân dân chọn, cử làm đảng cầm quyền với tính cách là đày tớ của nhân dân trong bộ máy Nhà nước. Phải cùng một lúc làm tốt 2 nhiệm vụ (a)vai trò lãnh đạo được thừa nhận trong xã hội dân sự và (b)vai trò đày tớ của đảng cầm quyền trong hệ thống Nhà nước, Đảng mới thực hiện đúng được vai trò lãnh đạo của mình đối với đất nước, mới trở thành đảng lãnh đạo của đất nước. (Không như thế, thỉ chỉ còn lại là cái “đảng nhập cục”). 

V. Môi trường phấn đấu, rèn luyện của ĐCSVN trong thời bình 

          Lịch sử các đảng chính trị trên toàn thế giới cho thấy không một đảng chính trị nào sống sót được với quy luật tha hóa nếu như tự nó không tạo ra được cho mình môi trường có khả năng kiểm soát có hiệu quả, giảm thiểu hay loại bỏ sự tha hóa của nó.

          Cho đến khi giành được độc lập thống nhất đất nước, môi trường thời chiến là một trong những yếu tố quan trọng rèn luyện nên phẩm chất cách mạng và bản lĩnh của Đảng, nhờ đó làm nên sự nghiệp.

Bây giờ trong thời bình, chiến tranh không còn nữa để thử thách, môi trường rèn luyện của Đảng không thể nào khác là môi trường phấn đấu của toàn dân xây dựng đất nước phát triển trên cơ sở kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự. Trên thực tế Đảng đã có không ít chủ trương chính sách, biện pháp xác lập sự phấn đấu của Đảng trong môi trường này.

Tuy nhiên, có rất nhiều nguyên nhân – trong đó có nỗi lo “sợ tuột tay” và hiện tượng đầu hàng sự tha hóa là 2 nguyên nhân quan trọng nhất, – đã khiến Đảng làm biến dạng môi trường phấn đấu này bằng cách thêm vào mỗi thiết chế trong hệ thống “kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự” cái cụm từ đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa(nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.., lác đác trong một vài bài viết gần đây xuất hiện khái niệm xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa, v v…). Khỏi phải nói, ngoài cái ý nghĩa bảo đảm cho Đảng cái quyền lãnh đạo ở khắp mọi nơi, rất khó xác định nội dung đích thực của cái cụm từ đuôi này là gì; không sao hình dung hết được cụm từ đuôi này được vận dụng tùy tiện hay bị lạm dụng như thế nào. (Ít hay nhiều còn có nguyên nhân ý thức hệ, song hình như sự tha hóa đã phát triển đến mức ý thức hệ hầu như cũng chỉ còn là một thứ bình phong.)

27 năm đổi mới vừa qua cho thấy việc làm biến dạng như vậy môi trường phấn đấu của Đảng đã và đang làm cho cả Đảng và Nhà nước ngày càng yếu đi, tệ nạn tràn lan, chung cuộc là kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Nói riêng về Đảng, sự làm biến dạng môi trường phấn đấu trên thực tế hoàn toàn không giảm bớt, mà hàng ngày đang tăng thêm nguy cơ “tuột tay” của Đảng, tiếp tục làm suy yếu Đảng, thậm chí làm cho Đảng lạc hậu: Lãnh đạo đang bị biến tướng thành nắm quyền. Sự tha hóa này đã đến mức Hội nghị Trung ương 4 phải cảnh báo, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự tha hóa này chính là hiện tượng “đảng hóa” trầm trọng toàn bộ cuộc sống mọi mặt của đất nước.

Đã đến lúc Đảng phải từ bỏ quan điểm cũng như cách làm sửa đổi môi trường phấn đấu cho phù hợp với Đảng.

Đã đến lúc Đảng phải lấy môi trường phấn đấu mà ngày nay trong tình hình mới cả dân tộc đang phải dấn thân bước vào làm môi trường phấn đấu của chính mình. Nghĩa là Đảng phải dứt khoát từ bỏ việc gọt chân cho vừa giày, để chuyển hẳn sang đổi mới và rèn luyện Đảng trong môi trường phấn đấu mới của mình do sự nghiệp phát triển của đất nước tạo ra.

VI. Vài ý về xã hội dân sự 

Trong phát triển kinh tế thị trường và trong xây dựng nhà nước pháp quyền, dù đúng dù sai, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương chính sách cho đảng viên phấn đấu, tuy nhiên với nội dung cốt lõi là “giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa”, góp phần không nhỏ gây ra sự biến dạng nói trên.

Tuy nhiên, trong môi trường phấn đấu thuộc lĩnh vực xã hội dân sự, Đảng lựa chọn sự tránh né quyết liệt, bằng cách tạo ra một hình thức xã hội dân sự của Đảng, được khuôn vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và những hoạt động khác do Đảng nắm, xã hội chỉ được làm cái gì Đảng cho phép. Thậm chí có lúc  báo chí còn được nhắc nhở không được đề cập đến cụm từ xã hội dân sự. Có giải thích: Đấy là cách thực hiện sự lãnh đạo của Đảng. Có giải thích: Đấy là đòi hỏi của chống nguy cơ diễn biến hòa bình…

Tóm lại, Đảng không chấp nhận xã hội dân sự là môi trường phấn đấu, thậm chí về nhiều mặt là môi trường phấn đấu quan trọng nhất của mình, để thông qua quá trình đào thải, cọ xát, rèn luyên, trong môi trường này xây dựng vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong khi đó sự nghiệp phát triển của đất nước ngày nay đòi hỏi Đảng cần nhìn nhận đúng đắn xã hội dân sự và vai trò quan trọng không thể thiếu của nó. Lại phải nhấn mạnh: Nhất thiết Đảng phải ra khỏi trạng thái gọt chân xã hội dân sự cho vừa chiếc giày do Đảng làm ra. Đổi mới Đảng và sửa đổi Hiến pháp lần này cần tạo mọi điều kiện xác lập và phát triển xã hội dân sự ở nước ta, với tất cả những kinh nghiệm đắt của đất nước và những bài học quý giá của văn minh nhân loại.

Nói hình ảnh: Thời bình Đảng không sống trong dân thì phấn đấu thế nào?

Nói cay nghiệt: Thời chiến Đảng tự nguyện sống trong dân, thời bình Đảng muốn dân sống theo ý Đảng! Thế là thế nào?

Khẩu hiệu “Ý Đảng lòng dân”, “Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống”… chính là có ý thức hay vô ý thức phản ánh nội dung “cắt gọt chân cho vừa giày” này, mà lẽ ra lòng dân bây giờ phải trở thành ý chí của Đảng, những vấn đề cuộc sống đất nước hôm nay đặt ra phải được đưa vào nghị quyết của Đảng với ý thức đặt lợi ích của nhân dân, của tổ quốc lên trên hết! Trong tình hình tha hóa của Đảng như hiện nay, 2 khẩu hiểu hay là 2 cách nghĩ này là sai; sự vô thức một cách vô tình hay hữu ý về cái sai  của 2 khẩu hiệu này thật đáng lo ngại. Còn nhiều  khẩu hiệu khác đại loại như vậy có cái sai như thế, và tất nhiên đây không chỉ là vấn đề khẩu hiệu.

Ngày nay trên thế giới có không biết bao nhiêu pho sách và công trình nghiên cứu đã phân tích, chắt lọc, đúc kết những kinh nghiệm, những điều cần rút ra về xã hội dân sự.  Là nước đi sau, Việt Nam có thể rút ngắn được rất nhiều con đường đau khổ của mình nhờ những thành tựu của phát triển xã hôi dân sự mà nhân loại đã đúc kết được.

Tại đây chỉ xin tóm tắt: Xã hội dân sự là cộng đồng xã hội của các công dân có ý thức, nơi công dân trực tiếp thực thi quyền lực của mình là người chủ của đất nước, là nơi công dân có điều kiện nâng cao quyền năng con người của mình, thực hiện các quyền dân chủ trực tiếp của mình. Dân chủ trực tiếp là quyền dân chủ quan trọng nhất và thường được thực hiện với kết quả tốt nhất trong xã hội dân sự. Với ý nghĩa này, xã hội dân sự là cội nguồn tạo nên nhà nước pháp quyền đúng đắn, là đối trọng không thể thiếu của nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng là một dạng quyền lực của nhân dân trực tiếp kiểm soát nhà nước pháp quyền. Được phát triển đúng đắn, xã hội dân sự đối lập hay đối kháng với mọi hiện tượng lũng đoạn. Muốn xây dựng được nhà nước pháp quyền lành mạnh, nhất thiết phải có xã hội dân sự lành mạnh.  

Không có xã hội dân sự đúng nghĩa, trên thực tế sẽ là không có nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đúng nghĩa; đồng thời kinh tế thị trường cũng bị lũng đoạn nghiêm trọng. Xã hội dân sự được phát triển là một trong những yếu tố thiết yếu của tự do, dân chủ, quyền con người và sự phát triển thịnh vượng, văn minh trong một quốc gia. Không có xã hội dân sự đích thực, quyền làm chủ của nhân dân chỉ là trên giấy; khẩu hiệu “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” chỉ là hình thức… Xã hội dân sự được hướng dẫn (hay lãnh đạo) bởi các giá trị chân chính và trí tuệ, chứ không phải bằng quyền lực.  

Đảng muốn thực hiện được vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội dân sự nhất thiết Đảng phải phấn đấu trở thành đội ngũ tinh hoa của dân tộc, có khả năng nâng cao những giá trị chân chính và trí tuệ của toàn xã hội. Nói một cách khác: Chịu sự cọ sát của xã hội dân sự, nâng cao quyền năng của công dân đối với Nhà nước, đối với Đảng, đối với mọi vấn đề của đất nước.., đấy chính là phương thức quan trọng không thể thiếu để rèn luyện phẩm chất và khả năng lãnh đạo, khả năng cầm quyền của Đảng.  

Xã hội dân sự là môi trường phấn đấu gian khổ nhất của Đảng trong thời bình – bởi lẽ chính đấy là cách thực hiên dân chủ, thực hiện công khai minh bạch, vì đòi hỏi của sự nghiệp phát triển đất nước.  

Tình hình đất nước hiện nay còn đòi hỏi Đảng cần phát triển xã hội dân sự trở thành một trong những sức mạnh và nguồn lực chủ yếu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. 

VII. Vấn đề “quyền lực nhà nước là thống nhất”

Trong việc thiết kế hệ thống nhà nước, đây là vấn đề được nói tới nhiều nhất và được coi là nguyên tắc phải tôn trọng, ghi trong nhiều văn kiện chính thức của Đảng.

Nguyên tắc “thống nhất” này nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng đối với Nhà nước. Nhưng trong thực tế, kết quả đạt được đã dẫn tới hệ quả là quyền lực của Đảng đứng trên Hiến pháp. Thực tiễn xây dựng đất nước 27 năm qua đã cho thấy nguyên tắc “thống nhất” này thể hiện rõ nét nhất qua hiện tượng đảng hóa hệ thống nhà nước. Thực tế này đang cản trở sự phát triển của đất nước.

Vẫn cứ phải nhắc lại: Làm như thế, cả Đảng và Nhà nước cùng yếu đi, đến mức Hội nghị Trung ương 4 đã phải báo động về phần Đảng.

 Bàn về sửa đổi Hiến pháp, đưa ra quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất như vậy, thực chất là nhằm tránh né nguyên tắc tam quyền phân lập trong tổ chức nhà nước, tránh né việc tách bạch giữa Đảng và Nhà nước…

Nhân danh sự “thống nhất” này, nhiều hệ thống, tổ chức, bộ máy và vấn đề nhân sự trong hệ thống Nhà nước được thiết kế theo kiểu “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, thuận lợi cho sự can thiệp trực tiếp của Đảng, nhưng giảm thiểu nghiêm trọng hay loại bỏ hẳn đòi hỏi về tính trách nhiệm và giải trình (accountability) nhất thiết phải có của tất cả các bộ phận trong toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước.

Vì những lẽ nêu trên, cho đến nay đời sống mọi mặt của đất nước có biết bao nhiêu đổ vỡ, thất bại nguy hiểm, thậm chí có cả tội phạm nghiêm trọng.., nhưng không thể quy kết trách nhiệm được cho ai và thường là không được công khai minh bạch. Mặt khác, việc đề ra những biện pháp xử lý, đối phó, phòng ngừa những cái xấu này bị hạn chế nghiêm trọng.

Cho đến nay chưa một lần làm rõ được “thống nhất” phải được thực hiện trong khuôn khổ nào, và “thống nhất” cái gì với cái gì. Vì vậy hệ thống Đảng và hệ thống Nhà nước hầu như lồng quyện trong nhau làm một rất khó tách bạch rành rọt, với hệ quả là về nhiều mặt chính quyền trở thành bộ máy thực thi những quyết định của Đảng.

“Thống nhất” như vậy, khiến nguồn lực con người và trí tuệ của Đảng sa đà vào trực tiếp làm các vụ việc, nhất là các vụ việc thuộc hệ thống nhà nước. Làm như thế, Đảng không tập trung được vào nhiệm vụ chính yếu của mình là lãnh đạo và thông qua hệ thống Nhà nước tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách lớn của Đảng đã trở thành những quốc sách mà đất nước cần.  

“Thống nhất” như vậy, Đảng bỏ quá nhiều công sức cho những việc lẽ ra phải thuộc về hệ thống nhà nước hay của xã hội. Vì sa đà để “nắm” như thế, tầm nhìn của Đảng bị hạn chế nghiêm trọng, và do đó Đảng không tập trung làm tốt được nhiệm vụ chính yếu của mình là đề ra, lãnh đạo và tổ chức thực hiện theo đúng đường đi nước bước của Hiến pháp và luật pháp những quyết sách chiến lược của quốc gia.

Khó mà nói rằng sự thống nhất đang được Đảng nhấn mạnh ở đây là sự “thống nhất” trong khuôn khổ của Hiến pháp. Nhưng dễ thấy hơn và thường xuyên xảy ra là: Sự thống nhất ấy chính là “thống nhất chịu sự quyết định hay can thiệp của Đảng trong công việc của Nhà nước”. “Thống nhất” như thế là cách Đảng thực hiện trực tiếp hay gián tiếp việc nắm mọi quyền hành của đất nước, mâu thuẫn với việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Việc đính thêm cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” cho nhà nước pháp quyền không giải quyết được mâu thuẫn này, mà chỉ là cách biện minh cho nó.

Hệ quả chung nhất của sự “thống nhất” này là toàn bộ hệ thống chính trị – bao gồm cả Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội – rất cồng kềnh, song trùng, tính chuyên nghiệp thấp, biên chế lớn và ngày càng lớn, vô cùng tốn kém, nhưng khả năng thực thi và hiệu quả thấp. Đời sống đất nước có quá nhiều các “vùng chồng lấn quyền lực”, đồng thời cũng có không ít các “khoảng trống quyền lực”, tính quan liêu ăn bám trong hệ thống rất trầm trọng, tính chủ động trong hệ thống bị kìm hãm. “Thống nhất” như thế là thuận lợi cho tham nhũng và tiêu cực.

Sửa đổi Hiến pháp lần này, nếu làm rõ được vai trò và quyền lực của nhà nước tách bạch với Đảng, đồng nếu thời tổ chức được hệ thống nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập, đấy sẽ là yếu tố quan trọng góp phần khắc phục những yếu kém và tồn tại nêu trên, thúc đẩy cả Đảng và Nhà nước ai sẽ phải làm đúng việc nấy, cả hai cùng mạnh và sẽ cùng trưởng thành hơn.

Ở mọi quốc gia văn minh, để quyền lực nhà nước không trở thành bạo lực, nhất thiết quyền lực phải được (a)giao cho trách nhiệm rõ ràng và (b) phải được kiểm soát. Dù cách thực hiện đòi hỏi tất yếu này được đa dạng hóa cho phù hợp với thực tế của mỗi nước như thế nào, việc giao trách nhiệm và việc kiểm soát quyền lực trong hệ thống nhà nước về cơ bản vẫn là thực hiện nguyên tắc phân lập giữa 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp – để phần quyền nào làm đúng việc phần quyền nấy và kiểm soát lẫn nhau. Một số quốc gia chẻ nhỏ sự phân lập này thành 5 hay 6 quyền, song chung quy vẫn là nguyên tắc cơ bản: (a) giao quyền và (b) kiểm soát việc thực thi quyền.

Nhân đây xin nói thêm, trong khi cả 3 quyền đều yếu, quyền tư pháp của hệ thống nhà nước ta hiện nay đang là quyền yếu nhất hay là được thực hiện kém nhất so với lập pháphành pháp. Trong khi đó quyền tư pháp giữ vai trò rất quan trọng bảo đảm tính nhà nước ta là nhà nước pháp quyền. Rất cần quan tâm khắc phục yếu kém này. Sửa đổi Hiến pháp lần này cần làm rõ vai trò và quyền lực của Tòa án tối cao theo hướng nên thiết lập Toà án Hiến pháp.

Ngoài việc Hiến pháp được sửa đổi lần này cần làm rõ Hiến pháp là tối thượng, tách bạch được rạch ròi giữa Đảng và Nhà nước với yêu cầu xác lập đảng cầm quyền là công cụ, là một bộ phận của hệ thống nhà nước với tính cách là đày tớ của nhân dân, phân công rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.., Hiến pháp được sửa đổi lần này cần thiết kế thế nào để nâng cao quyền năng và trách nhiệm của công dân đối với hệ thống Nhà nước theo tinh thần: Nhân dân là chủ và được phép làm mọi việc luật pháp không cấm, nhà nước là đày tớ của nhân dân chỉ được làm những gì luật pháp cho phép. Các điều, khoản trong Hiến pháp liên quan đến công dân như vậy nên thiết kế theo cách tạo ra khả năng thực thi trực tiếp, cố gắng hạn chế tới mức thấp nhất việc phải đề ra các Luật hoặc những quy định dưới Luật để cụ thể hóa việc thực hiện.

          Hy vọng toàn bộ những điều trình bầy trên khẳng định được yêu cầu sửa đổi Hiến pháp phải gắn với đổi mới Đảng. Sửa đổi Hiến pháp lần này với đúng nghĩa, sẽ là bước đi đầu tiên có ý nghĩa quyết định cho thực hiện cải cách chính trị đã trở nên chín muồi ở nước ta. Cải cách chính trị như thế là phương án tối ưu duy nhất thay thế cho kịch bản đổ vỡ.

Thay lời kết 

          Câu hỏi “Có làm được không?” có lẽ là lời kết quan trọng nhất.

Đảng coi nhiệm vụ sửa đổi Hiến pháp là cơ hội đổi mới Đảng thì nhất định làm được, mà nhiệm vụ này đã được ghi vào Nghị quyết của Đại hội XI.

Cần nhận thức rõ đòi hỏi chuyển giai đoạn của đất nước, nhận thức rõ cơ hội chưa từng có và thách thức mất còn đang đặt ra cho đất nước trong bối cảnh thế giới hôm nay, để cùng một lúc tiến hành thực hiện gắn kết với nhau hai nhiệm vụ trong đại: sửa đổi Hiến pháp và đổi mới Đảng. Đấy là tiền đề không thể thiếu để thắng lợi. Đảng nắm vững ngọn cờ dân tộc và dân chủ thì làm được.

        Có mối bi quan cho rằng tình trạng xuống cấp và tha hóa trong hệ thống chính trị đất nước đã quá sâu rồi, không đảo ngược được, nên không thể đứng lên được.

        Nếu chấp nhận thế thì đành chịu chết vậy, sẽ không có cải cách thể chế chính trị, sẽ không thể tái cơ cấu kinh tế, đất nước sẽ không thể đi vào thời kỳ phát triển mới, bền vững… Nhưng dân tộc ta thì sẽ không bao giờ cam tâm chịu chết như vậy – đó là điều khẳng định.

        Có sự lo ngại đổi mới Đảng và sửa đổi Hiến pháp như thế sớm muộn sẽ dẫn đến đa nguyên.

        Ở đây có sự lựa chọn: thuận theo hay cưỡng lại quy luật của phát triển? Hai từ “sớm muộn” ở đây không thể nói trước được hay ước lượng được là bao nhiêu năm; tuy nhiên có thể nói trước: Sự nghiệp xây dựng con đường dân chủ đúng đắn – con đường dân chủ của giáo dục, của học hỏi, của phát triển – là sự nghiệp gian khổ, dù vô cùng bức thiết như thế nào cũng không thể là công việc ăn sống nuốt tươi được. Và nhất là xin đừng lúc nào quên: Ở nước ta sự nghiệp xây dựng con đường dân chủ như vậy nhất thiết phải là sự nghiệp xây dựng con đường dân chủ của hòa giải hòa hợp dân tộc, của đoàn kết dân tộc.

Trước mắt, sự lãnh đạo trác việt mới là điều đất nước này đang cần nhất,  mới là vấn đề thời sự nóng bỏng nhất để thực hiện sự nghiệp xây dựng con đường dân chủ như thế. Đảng nên rũ bỏ mọi yếu kém của mình, phấn đấu vượt qua chính mình; từng đảng viên khép lại quá khứ của mình và không ngoái lại quá khứ, để cùng toàn Đảng vượt lên chính mình, để cùng toàn Đảng và cả nước vươn lên tạo ra sự lãnh đạo trác việt ấy cho đất nước, lấy hậu thuẫn của nghị lực và trí tuệ của toàn dân tộc xây dựng bằng được sự lãnh đạo trác việt ấy, đó là điều cần lựa chọn.

Nắm trọn quyền hành đất nước trong tay, Đảng thực hiện trước khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, để vượt lên chính mình, để cho hiện tại và phía trước từ nay trở đi chỉ có tổ quốc, rồi Đảng kêu gọi toàn dân tộc cùng mình làm như thế, làm sao Đảng này, đất nước này không thắng lợi!? Đó chính là con đường của dân chủ, của hòa giải hòa hợp và đoàn kết dân tộc.

Hay là Đảng đành khoanh tay chấp nhận sự tước bỏ vai trò lãnh đạo ấy – bằng cách một mặt Đảng chịu thúc thủ trước sự hoành hành của tha hóa, và mặt khác dùng bạo lực trấn áp để kháng cự lại đòi hỏi phát triển của đất nước?

Đúng, đây là vấn đề sống còn đối với Đảng. Cần nhìn thêm những thách thức và uy hiếp từ bên ngoài để có cái nhìn toàn diện mà quyết định.

Nếu Đảng lãnh đạo cả nước xây dựng được một Hiến pháp mới đúng với đòi hỏi hiện nay của đất nước trong cục diện mới của thế giới, Đảng lấy Hiến pháp mới này làm nền tảng tạo ra sự đổi mới cho chính mình, đất nước nhất định thắng lợi. Lãnh đạo là như thế. Dựa vào dân, dựa vào đất nước để đổi mới Đảng là như thế.

Đảng phấn đấu vươn lên để có được sự lãnh đạo trác việt, một khi tới thời điểm nào đó đất nước xuất hiện trạng thái đa nguyên như là một kết quả của phát triển, chắc chắn đấy sẽ là trạng thái đa nguyên cần thiết cho phát triển đất nước về lâu dài. Xây dựng và bảo vệ tổ quốc về lâu dài là phải làm như thế.  Làm được như thế, Đảng chỉ mất đi cái lợi tức từ gia tài khổng lồ của lịch sử Đảng đang thụ hưởng, đổi lại Đảng giành được cho mình phẩm chất và bản lĩnh mới, được rèn luyện để có khả năng đi  hẳn với dân tộc và lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới.

Đảng cam chịu bất lực không làm được vai trò như thế, sớm muộn cũng sẽ xuất hiện đa nguyên. Nhưng đấy sẽ là đa nguyên của không tự giác, của hỗn loạn và đổ vỡ. Nhưng rồi dân tộc ta sẽ lại tự mình đứng lên làm lại tất cả! Dân tộc ta có thể bị thua keo này hay keo khác, nhưng trong lịch sử của mình cho đến nay dân tộc ta chưa hề có chuyện đầu hàng.

Cần phải thẳng thắn với nhau: Khó ai có thể “bói” trước được đa nguyên của phát triển hay đa nguyên của đổ vỡ con đường nào đối với nước ta ngắn hơn hay triệt để hơn con đường nào. Mỗi con đường đều có một cái móc xích loẵng ngoẵng những chữ “nếu” đi cùng; bởi vì ngoài việc ta phải tự xác định ta là ai trong sự lựa chọn này, nước ta còn là một thành viên trong cộng đồng của một thế giới đang thay đổi, là một thành viên trong cộng đồng của các quốc gia bên bờ Biển Đông đang nổi sóng. Thói đời dứt dây động rừng, mà nước ta lại không phải là đang độc cư trên cung trăng. Song hầu như có thể chắc chắn trong tình hình đối nội và đối ngoại hiện nay của đất nước, Việt Nam ta chỉ có 2 con đường như thế để lựa chọn: (1) con đường tự giác kế thừa những thứ đang có trong tay triệt để cải cách để đi tiếp, hay là (2) con đường đổ vỡ xóa đi làm lại từ đầu chắc chắn không ít máu và nước mắt. Cố tình không cải cách, không lựa chọn gì hoặc bất lực không tiến hành sự lựa chọn nào, đều dẫn tới sự lựa chọn con đường của đổ vỡ một cách không tự giác. Đừng quên sự nhắc nhở của Hội nghị Trung ương 4.

Thiết nghĩ từng đảng viên phải cân nhắc, lựa chọn để toàn Đảng có một lựa chọn. Lựa chọn nào thì kết quả nấy.

Đó chính là sự lựa chọn Sống hay là chết?!

Cách mạng nhất, tiền phong chiến đấu nhất là Đảng nên coi việc sửa đổi Hiến pháp lần này là cơ hội đổi mới chính mình. Ở vào vị thế của Đảng hiện nay trong xã hội nước ta, nếu ý thức được sự lựa chọn, cái tốt trong Đảng cho đến giờ này vẫn còn đủ sức làm được việc trọng đại phải làm này./. 

Ghi lại ngày 05-04-2012, Võng Thị – Hà Nội.


[1]Trên thực tế không làm được bao nhiêu nhiệm vụ gương mẫu, thậm chí nhân dân có lúc mỉa mai đau lòng trong khi nói chuyện với nhau: “Thằng cha này là đảng viên nhưng là người tốt!” 

Mười lý do khiến các nước tan rã

Nguồn Viet-Studies

Bản dịch của một thân hữu của viet-studies

Các quốc gia không thất bại sau một đêm. Hạt mầm sự sụp đổ nằm sâu trong thể chế chính trị của các quốc gia này.

DARON ACEMOGLU và JAMES A. ROBINSON

Một số nước thất bại một cách ngoạn mục, như sự sụp đổ hoàn toàn của mọi thể chế nhà nước tại Afghanistan sau khi quân đội Sô viết triệt thoái và treo cổ tổng thống Mohammad Najibulla lên cột đèn, hay trong một cuộc nội chiến kéo dài cả thập kỷ tại Sierra Leone, nơi chính phủ ngừng tồn tại hoàn toàn.

Tuy nhiên, sự tan rã ở đa số các nước khác đã không xảy ra với một tiếng nổ ầm nhưng với những rỉ rên thút thít. Những nước này thất bại không phải trong một sự bộc phát của chiến tranh và bạo lực mà vì họ hoàn toàn không thể khai thác tiềm năng tăng trưởng khổng lồ của xã hội họ, buộc công dân của họ sống cả đời trong nghèo khó. Dạng thức thất bại chậm rãi nhưng xoáy nghiền này đã khiến các nước Châu Phi dưới Sahara, Châu Á và Mỹ Latin có mức sống thấp hơn rất rất nhiều so với phương Tây.

Điều bi thảm là thất bại này là hậu quả của một sự cố tình. Các quốc gia này sụp đổ vì chúng được cai trị bởi các thể chế kinh tế mà chúng tôi gọi là các thể chế “bòn rút” (extractive). Các thể chế này huỷ diệt động lực, cản ngăn đổi mới và làm héo mòn tài năng của người dân bằng cách tạo ra các sân chơi nghiêng lệch và cướp mất cơ hội của những người dân ấy. Sự hiện thực của các thể chế này không phải do lỗi lầm mà là có chủ ý. Chúng tồn tại vì lợi ích của các thành phần tinh hoa (elites) là những người được lợi nhất từ sự bòn rút – dù đó là sự bòn rút dưới hình thức các khoáng sản đáng giá, lao động cưỡng bức, hay các độc quyền được bảo vệ  ̶  mà toàn xã hội phải trả giá. Tất nhiên, những thành phần tinh hoa ấy cũng hưởng lợi từ các thể chế chính trị thủ đoạn, dùng quyền lực của họ để xô đẩy hệ thống về hướng có lợi cho họ.

Song, các nhà nước xây dựng trên bóc lột sẽ không tránh được thất bại, kéo sụp theo toàn bộ hệ thống thối nát và thường đưa đến sự đau khổ mênh mông. Hàng năm, Chỉ số các quốc gia thất bại[1] đưa ra các thống kê bi thảm của các quốc gia thất bại. Dưới đây là chỉ dẫn của chúng tôi về 10 con đường sự thất bại diễn ra.

1. Bắc Triều Tiên: Không có quyền sở hữu

Các thể chế kinh tế của Bắc Triều Tiên khiến người dân gần như không thể sở hữu bất cứ cái gì; nhà nước sở hữu mọi thứ, bao gồm hầu như tất cả đất đai và vốn. Nông nghiệp được tổ chức thông qua các trang trại tập thể. Mọi người đều làm việc cho Đảng Lao động Triều Tiên chứ không phải cho họ. Điều đó tiêu diệt động lực muốn thành công của họ.

Bắc Triều Tiên có thể trù phú hơn nhiều. Năm 1998, một phái đoàn của Liên Hợp Quốc nhận thấy rằng nhiều máy cày, xe tải, và máy móc nông nghiệp khác của quốc gia này đơn giản là không được sử dụng hay bảo trì. Từ những năm 1980, nông dân được phép sở hữu những thửa đất nhỏ và bán những gì họ trồng. Nhưng ngay điều này cũng không tạo ra nhiều khuyến khích vì sự thiếu vắng rộng khắp các quyền sở hữu. Năm 2009, chính phủ đổi tiền và chỉ cho phép mỗi người dân đổi từ 100.000 đến 150.000 won[2] tiền cũ sang tiền mới (tương đương khoảng 30, 40 đô la Mỹ theo giá chợ đen). Những người đã lao động và để dành bằng tiền cũ nhìn tiền tiết kiệm của mình trở thành vô giá trị.

Bắc Triều Tiên không chỉ thất bại về tăng trưởng kinh tế – trong khi Nam Triều Tiên tăng trưởng rất nhanh – mà người dân của họ đơn giản cũng là thất bại trong việc trở nên trù phú hơn. Bị kẹt trong cái vòng xoay gây tê liệt này, Bắc Triều Tiên không chỉ nghèo hơn rất nhiều so với Nam Triều Tiên, họ còn lùn hơn (trung bình có thể đến 7,6 centimét) người láng giềng phía nam mà họ đã tách ra trong sáu thập kỷ qua.

2. Uzbekistan: Lao động cưỡng bức

Cưỡng bức là cách chắc chắn để thất bại. Tuy nhiên, cho đến gần đây, chí ít là trong phạm vi lịch sử nhân loại, phần lớn các nền kinh tế đều dựa vào sự cưỡng bức người lao động – nô lệ, nông nô và nhiều hình thức lao động cưỡng bức khác. Sự thật là, danh sách các phương cách để bắt con người làm cái họ không muốn cũng dài như danh sách các xã hội dựa trên cưỡng bức. Lao động cưỡng bức cũng là nguyên nhân của sự thiếu đổi mới và tiến bộ kỹ thuật trong đa số các xã hội này từ La Mã cổ đại cho đến miền Nam nước Mỹ.

Nước Uzbekistan hiện tại là một ví dụ hoàn hảo cho thấy cái quá khứ bi thảm ấy đã diễn ra như thế nào. Bông là một trong những hàng xuất khẩu lớn nhất của Uzbekistan. Vào tháng 9, lúc bông đến vụ thu hoạch, các trường học không một bóng trẻ em, tất cả bị cưỡng bức đi thu hoạch bông. Các nhà giáo thay vì làm công tác giáo dục thì trở thành những người tuyển lao động. Trẻ em được giao định mức thu hoạch từ 20 đến 60 kg bông mỗi ngày tùy theo độ tuổi. Người được lợi chính từ hệ thống này là tổng thống Islam Karimov và bầu bạn của ông ta, những người kiểm soát việc sản xuất và bán bông. Người thiệt thòi không chỉ là 2,7 triệu trẻ em bị cưỡng bức lao động mà còn là toàn xã hội Uzbekistan, một xã hội không thể vượt ra khỏi sự nghèo khổ. Thu nhập bình quân đầu người ở đây không cách xa bao nhiêu với mức thấp của họ khi Liên Xô sụp đổ, ngoại trừ thu nhập của gia đinh Karimov, người đang thống trị ngành khai thác dầu khí ở nước này, là đang rất khá.

3. Nam Phi: Một sân chơi nghiêng lệch

Vào năm 1904, công nghiệp khai khoáng đặt định một hệ thống đẳng cấp về việc làm tại Nam Phi. Từ khi ấy trở đi, chỉ những người Châu Âu mới được làm thợ rèn, thợ làm gạch, thợ nồi hơi – cơ bản là bất cứ việc làm nào đòi hỏi kỹ năng. “Rào cản [da] màu” này, như người Nam Phi gọi nó, đã được mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế vào năm 1926 và kéo dài cho tới những năm 1980, đã tước đoạt mọi cơ hội sử dụng kỹ năng và tài năng của những người Nam Phi da đen. Họ bị buộc phải làm những công việc không cần đến kỹ năng trong các hầm mỏ và trong nông nghiệp với mức lương rất thấp. Điều đó mang lại lợi nhuận kếch xù cho giới tinh hoa – những người chủ sở hữu các hầm mỏ và các nông trại. Chẳng có gì ngạc nhiên, Nam Phi dưới chế độ phân ly chủng tộc (apartheid) đã thất bại trong việc cải thiện điều kiện sống cho 80% dân số của quốc gia này trong gần một thế kỷ. Trong vòng 15 năm trước khi chế độ phân ly chủng tộc sụp đổ, nền kinh tế Nam Phi thậm chí còn co lại. Từ năm 1994 với sự thăng tiến của một nhà nước dân chủ, nền kinh tế tăng trưởng đều đặn trở lại.

4. Ai Cập: Các ông lớn trở nên tham lam

Khi giới ưu tú kiểm soát nền kinh tế, họ thường sử dụng quyền của họ để tạo ra các độc quyền và ngăn cản sự xâm nhập của những người mới hay hãng mới. Đó chính là điều đã diễn ra tại Ai Cập trong suốt ba thập kỷ thời Hosni Mubarak. Chính phủ và quân đội sở hữu nhiều mảng lớn của nền kinh tế – khoảng 40% theo một số ước tính.  Ngay khi họ “tự do hoá”, họ đã tư nhân hóa một phần lớn nền kinh tế vào tay bạn bè của Mubarak hay của con trai ông ta – Gamal. Các nhà kinh doanh lớn gần gũi với chế độ, ví dụ như Ahmed Ezz (trong lĩnh vực sắt và thép), gia đình Sawiris (trong lĩnh vực đa truyền thông, nước giải khát và viễn thông) và Mohamed Nosseir (trong lĩnh vực nước giải khát và viễn thông) đã nhận được không chỉ sự bảo hộ của nhà nước mà còn các hợp đồng của nhà nước và các khoản tín dụng lớn từ ngân hàng mà không cần thế chấp.

Các nhà kinh doanh lớn này được biết đến như những con “cá voi”. Sự nắm chặt nền kinh tế trong tay của họ đã tạo ra lợi nhuận khổng lồ cho những kẻ bên trong chế độ, nhưng lại ngăn chận cơ hội của đại bộ phận người dân Ai Cập thoát khỏi nghèo khổ. Trong lúc đó, gia đình Mubarak tích lũy một tài sản ước tính khoảng 70 tỷ đô la.

5. Áo và Nga: Giới quyền lực cản trở công nghệ mới   

Các công nghệ mới đặc biệt có tính phá hủy. Chúng quét đi các mô hình kinh doanh cũ và làm cho các kỹ năng và các tổ chức hiện hành trở nên lỗi thời. Chúng phân phối lại không chỉ thu nhập và của cải mà còn cả quyền lực chính trị. Đó là một động lực lớn khiến giới tinh hoa cố gắng ngăn chặn tiến bộ. Thế là tốt cho họ, nhưng không tốt cho xã hội.

Hãy xem cái gì đã xảy ra vào thế kỷ 19, khi đường sắt đã lan rộng ra khắp nước Anh và nước Mỹ. Một đề án xây dựng đường sắt được trình lên Francis I, hoàng đế nước Áo. Vẫn đang bị ám ảnh bởi bóng ma của Cách mạng Pháp 1789, ông ta trả lời: “Không, không, tôi sẽ không làm gì với cái này hết, không thì cách mạng có thể vào nước ta.”  Một việc tương tự cũng xảy ra ở Nga cho đến tận những năm 1860. Với các công nghệ mới bị ngăn chận, chế độ Sa hoàng đã an toàn, ít nhất trong một thời gian. Trong khi Anh và Mỹ phát triển nhanh chóng thì Áo và Nga đã không được như thế. Đường ray nói lên câu chuyện: vào những năm 1840, nước Anh trong cơn sốt đường sắt với hơn 6000 dặm đường sắt được xây dựng, trong khi ở nước Nga mênh mông thì chỉ có một tuyến đường sắt. Thậm chí tuyến đường đó cũng không được xây dựng vì lợi ích của dân Nga; nó dài 17 dặm nối St. Petersburg với dinh thự hoàng gia tại làng Tsarskoe và Pavlovsk.

6. Somali: Không luật pháp và trật tự

Một điều nhất thiết phải có cho một nền kinh tế thành công là một nhà nước trung ương hiệu quả. Thiếu cái đó sẽ không có hi vọng gì về bảo đảm trật tự, một hệ thống luật pháp hiệu quả và cung cấp các hàng hóa công cơ bản.

Thật vậy, hiện nay phần lớn thế giới vẫn là các xã hội không có nhà nước. Mặc dù các quốc gia như Somali hay một quốc gia mới là Nam Sudan có chính quyền được quốc tế công nhận, các chính quyền này vẫn thực thi rất ít quyền lực bên ngoài thủ đô của họ, thậm chí có thể là không có ngay ở thủ đô. Cả hai nước được xây dựng trên các xã hội mà trong lịch sử chưa bao giờ thiết lập được nhà nước trung ương, nhưng bị chia thành các thị tộc nơi các quyết định được đưa ra theo sự đồng thuận giữa những người đàn ông trưởng thành. Chưa một thị tộc nào có thể thống trị hay xây dựng một bộ luật hay quy tắc được toàn quốc công nhận. Ở đó không có các chức vụ chính trị, không có các nhà hành chính, không có thuế, không có chi tiêu của chính phủ, không có công an, không có luật sư – nói cách khác, không có chính phủ.

Tình trạng này đã kéo dài trong suốt thời kỳ thuộc địa ở Somali khi mà người Anh thậm chí không thể thu được thuế thân, thường là nền tảng tài khóa tại các thuộc địa của họ ở châu Phi. Từ khi độc lập vào năm 1960, đã có nhiều nỗ lực nhằm thiết lập một nhà nước trung ương hiệu quả, ví dụ như dưới thời độc tài của Mohamed Siad Barre, nhưng sau hơn năm thập kỷ thì có thể công bằng và thậm chí hiển nhiên mà nói rằng những nổ lực ấy đều thất bại. Điều này có thể gọi là quy luật Somali: không có một nhà nước trung ương thì không thể có luật pháp và trật tự; không có luật pháp và trật tự thì không thể có một nền kinh tế thực sự; và không có một nền kinh tế thực sự thì quốc gia chắc chắn sẽ thất bại.

7. Colombia: Một chính quyền trung ương yếu

Colombia không phải là Somali.  Dù vậy, chính phủ trung ương của Colombia đã không thể hoặc không muốn thực hiện sự kiểm soát đối với một nửa đất nước, nơi thống trị bởi các du kích cánh tả, nổi tiếng nhất là lực lượng FARC, và, ngày càng tăng, các nhóm bán vũ trang cánh hữu. Các ông trùm ma tuý có lẽ đang bị dẹp, nhưng sự vắng mặt của nhà nước trên phần lớn quốc gia đã dẫn đến không chỉ tình trạng thiếu thốn các dịch vụ công như đường xá và y tế mà còn thiếu vắng những quyền sở hữu được xác định rõ ràng và thể chế hoá.

Hàng ngàn nông dân Colombia chỉ có quyền sở hữu không chính thức hoặc quyền sở hữu không có giá trị pháp lý. Mặc dù điều đó không làm họ ngừng mua bán đất, nhưng nó làm suy giảm động lực đầu tư của họ —  và sự không chắc chắn thường đưa đến bạo lực. Trong những năm 1990 và đầu 2000, có khoảng 5 triệu hecta đất ở Colombia bị cướp đọat, chủ yếu bằng súng đạn. Tình hình trở thành tồi tệ đến mức vào năm 1997, chính phủ trung ương cho phép các nhà chức trách địa phương cấm các giao dịch về đất đai ở nông thôn. Kết quả là thế nào? Nhiều vùng ở Colombia về cơ bản đã không thể tham gia vào các hoạt động kinh tế hiện đại, thay vào đó là chìm sâu vào nghèo khó, và khỏi phải nói tình trạng này mang lại những nơi ẩn trú mầu mỡ cho các lực lượng nổi dậy vũ trang và bán vũ trang cả tả lẫn hữu.

8. Peru: Dịch vụ công tồi tệ

Calca và gần đó là Acomayo là hai tỉnh của Peru. Cả hai đều nằm trên núi cao, đều là nơi cư trú của các hậu duệ của sắc tộc Incas nói tiếng Quechua. Cả hai đều canh tác một loại cây, nhưng Acomayo thì nghèo hơn Calca rất nhiều. Tiêu dùng của cư dân Acomayo ít hơn một phần ba so với cư dân ở Calca. Mọi người đều biết thế. Ở Acomayo người ta hỏi những người ngoại quốc can đảm. “Bạn có biết người ở đây nghèo hơn người ở Calca không? Tại sao bạn vẫn muốn đến đây?”

Thực vậy, đi đến Acomayo từ thủ phủ vùng Cusco, trung tâm của đế chế Inca cổ đại, khó khăn hơn nhiều so với đi đến Calca. Đường đến Calca được tráng nhựa trong khi đường đến Acomayo bị xuống cấp kinh khủng. Để đến Acomayo bạn cần ngựa hay lừa – chẳng phải vì khác địa hình nhưng vì không có đường tráng nhựa. Ở Calca người ta bán ngô và đậu tương ra thị trường lấy tiền, trong khi ở Acomayo người ta cũng trồng các loại cây đó nhưng chỉ để cho nhu cầu của bản thân. Kết quả là người Acomayo nghèo hơn người Calca một phần ba. Cơ sở hạ tầng là quan trọng. 

9. Bolivia: Bóc lột chính trị

Bolivia có lịch sử dài lâu của các thể chế bòn rút bắt đầu từ thời kỳ thực dân Tây Ban Nha, một lich sử đã gây oán hận tăng lên từ năm này sang năm khác. Vào năm 1952, người Bolivia nhất tề đứng lên chống lại giới ưu tú truyền thống, những người đang làm chủ các hầm mỏ và ruộng đất. Các lãnh tụ của cuộc cách mạng này phần lớn là những người thành thị bị loại ra khỏi quyền lực và sự đỡ đầu trong chế độ cũ. Một khi giành được chính quyền, những nhà cách mạng này tịch thu phần lớn ruộng đất và hầm mỏ và thành lập đảng chính trị – Phong trào Dân tộc Cách mang (MNR). Sự bất bình đẳng giảm đi đáng kể nhờ kết quả tịch thu ruộng đất và cải cách giáo dục của MNR. Tuy nhiên, MNR thiết lập nhà nước độc đảng và dần dần huỷ bỏ các quyền chính trị mà họ đã ban hành năm 1952. Vào cuối những năm 1960, bất bình đẳng trên thực tế lại cao hơn trước cách mạng.

Đối với đại bộ phận quần chúng ở nông thôn Bolivia, một giới ưu tú này được thay thế bởi một giới ưu tú khác theo cái mà nhà xã hội học người Đức Robert Michels gọi là “định luật sắt của chế độ hoạt đầu chính trị”.  Nông dân vẫn chỉ có các quyền sở hữu không được bảo đảm, họ vẫn phải bán phiếu bầu của mình để có thể có đất đai, tín dụng và việc làm. Chỉ khác là thay vì họ làm như vậy với giới ưu tú truyền thống thì nay họ làm với MNR.

10. Sierra Leone: Tranh giành lợi lộc

Sự bóc lột cực lực sẽ gây bất ổn và thất bại bởi vì, nhất quán với “định luật sắt của chế độ hoạt đầu chính trị”, sự bóc lột ấy sẽ tạo động lực cho các nhóm khác lật đổ nhóm ưu tú hiện tại để đoạt quyền.

Đó chính là điều đã xảy ở Sierra Leone. Siaka Stevens và đảng Quốc Đại Toàn Dân (APC: All People’s Congress) của Stevens cai trị quốc gia ấy từ năm 1967 đến 1985 như một thái ấp của cá nhân ông ta. khi Stevens xuống và trao quyền cho Joseph Momoh, người được ông ta đỡ đầu, thì tình trạng cũng không thay đổi gì mấy. Momoh tiếp tục cuộc cướp bóc.

Cái rắc rối là lối bòn rút này sẽ gây nên những bất mãn sâu đậm và thúc giục những kẻ muốn thành “đầu sỏ” giành lấy quyền lực, với hi vọng thò tay vào lợi lộc. Tháng 3 năm 1991, Mặt trận Cách mạng Thống nhất của Foday Sankoh, với yểm trợ và có lẽ cả sự chỉ đạo của nhà độc tài Liberia là Charles Taylor, đã vượt biên giới để vào Sierra Leone, đưa nước này vào một cuộc nội chiến bạo tàn kéo dài cả thập kỷ. Sankoh và Taylor chỉ quan tâm đến một thứ, đó là quyền lực, mà họ có thể dùng để chiếm đoạt kim cương, ngoài những mục tiêu khác. Họ có thể làm thế là nhờ chế độ mà Stevens và APC đã tạo dựng. Sierra Leona nhanh chóng rơi vào hỗn loạn, với nội chiến cướp đi mạng sống của khoảng 1% dân số và gây thương tích cho không biết bao nhiêu người khác. Nhà nước và các thể chế của Sierra Leone hoàn toàn sụp đổ.  Thu nhập của chính phủ giảm từ khoảng 15% tổng thu nhập quốc gia xuống gần bằng không vào năm 1991. Nhà nước, nói cách khác, không phải là thất bại mà là biến mất hoàn toàn.

 Daron Acemoglu và James A. Robinson là đồng tác giả cuốn sách “Vì sao các quốc gia thất bại: nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo khó“.

TS Nguyễn Quang A đã dịch cuốn sách này sang tiếng Việt. Bạn đọc có thể đọc bản dịch tại đây:

http://bayfiles.com/file/e9JX/chhWil/Vi_sao_cac_Quoc_gia_That_bai_Why_Nations_Fail.pdf

 


[1] Bảng chỉ số đánh giá thất bại của các quốc gia được Tạp chí Foreign Policy và tổ chức Fund for Peace công bố hàng năm

[2] Đơn vị tiền ở Bắc Triều tiên

23-6-12

Lược sử blog Việt – A Brief History of Blogs in Vietnam

 
24-6-2012 là tròn 7 năm Yahoo! 360° khai trương ở Việt Nam. Là một blogger, tôi nghĩ rằng nếu các cuộc biểu tình chống Trung Quốc năm 2011 gắn với Facebook, thì ở thời kỳ 2007-2008, Yahoo! 360° là một công cụ tập hợp không thể thiếu. Do đó, giới blogger chính trị ở Việt Nam rất nên nhớ đến mạng xã hội (đã đóng cửa) này.  
 
Cũng trong những ngày kỷ niệm một năm “mùa hè không đỏ lửa” 2011, tôi nảy ra ý định lập một “biên niên sử” ngắn về phong trào viết blog ở Việt Nam, kể từ khi blog xuất hiện ở đây. Kính mong các bạn blogger, Facebooker cùng đọc kỹ và góp ý sửa chữa, bổ sung nếu thấy thiếu sót. Ngoài ra, đã là “lịch sử” thì chỉ liệt kê sự kiện, hạn chế bình luận chủ quan – nhưng nếu có phần nào tôi thể hiện đánh giá cá nhân sai lệch, rất mong được lượng thứ. Bản tiếng Anh ở phía dưới.
 
June 24th 2012 marks the seventh year since Yahoo! 360° was introduced to Vietnam. As a blogger, I believe that while anti-China protests in 2011 were mostly attached to Facebook, Yahoo! 360° was an integral part of the protests in 2007. Political bloggers in Vietnam, therefore, should never forget this departed blog.
 
These days, one year after the summer of protests in Hanoi and Saigon, I’ve come up with the idea of writing a short chronology of blogging in Vietnam since the advent of blogs here. I would be very grateful if you could read it and make corrections to anything you find to be wrong or misleading information. The English version is below the Vietnamese one.
 
* * *
 
 
LƯỢC SỬ BLOG VIỆT NAM
 
 
2005: Yahoo! 360° xuất hiện ở ViệtNam (chính thức khai trương ngày 24-6-2005).
 
2006-2008: Giai đoạn bùng nổ của Yahoo! 360°, mở ra cả một thế giới mới trong lĩnh vực truyền thông Internet. Các blogger viết, chụp ảnh, chia sẻ file dữ liệu, và kết nối với nhau. Xuất hiện khái niệm “văn học mạng”. Một thế hệ nhà văn hình thành trên mạng khi họ viết truyện ngắn, tiểu thuyết, đăng dài kỳ trên blog. Một số gương mặt nổi tiếng gồm Trần Thu Trang, Trang Hạ, Hà Kin, Nick D… Hầu hết là phụ nữ, tuổi từ 20-30, và nói chung hạn chế viết về chính trị, tập trung vào thơ văn.
 
Một số blogger tăng view bằng cách đăng tải những bài viết và ảnh liên quan tới các chủ đề tình dục và người nổi tiếng: Cô Gái Đồ Long, Only You, Tắc Kè, Vàng Anh (với triết lý “tình dục, chính trị, kinh dị”, nick Vàng Anh được đặt theo tên một nữ diễn viên tuổi teen nổi tiếng từng dính vào bê bối tình dục).
 
Có một số ít blogger chính trị và chưa ai nổi tiếng: Vàng Anh (nổi tiếng chủ yếu ở phần nội dung liên quan đến sex và kinh dị), Người Buôn Gió, Anh Ba Sàm.
 
Chủ nhật, 9-12-2007: Những cuộc biểu tình đầu tiên của blogger ở Hà Nội và TP.HCM chống việc Trung Quốc phê chuẩn quyết định thành lập khu hành chính mang tên Thành phố Tam Sa để quản lý quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
 
20-4-2008: Blogger Điếu Cày bị bắt, sau đó bị kết án 2 năm 6 tháng tù vì tội “trốn thuế”. 
 
29-4-2008: Thanh niên biểu tình ở Hà Nội và TP.HCM, phản đối nghi lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh. Quy mô biểu tình khá nhỏ. 
 
Cuối 2008: Tin tức về “đại dự án” khai thác bô-xít ở Tây Nguyên bắt đầu lan truyền cả trên báo chí chính thống và cộng đồng blog. Bắt đầu nổi lên một trang Yahoo! 360° nổi tiếng dưới tên gọi “Change We Need”, công kích trực tiếp dự án này.
 
Blog “Change We Need” cung cấp cho độc giả những thông tin không thể kiểm chứng về chính quyền và mối quan hệ với phía Trung Quốc, chẳng hạn viết rằng “Bauxite Tây Nguyên – huyệt mộ triều đại cộng sản tự đào chôn mình”.
 
24-5-2009: Ông Trần Huỳnh Duy Thức, Giám đốc Công ty Một Kết Nối, bị bắt.
 
Giữa năm 2009: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn và TS. Nguyễn Thế Hùng lập một website phản biện dự án bauxite Tây Nguyên.
 
13-6-2009: Luật sư Lê Công Định bị bắt. Theo cơ quan an ninh, ông Thức và ông Định là tác giả của blog “Change We Need”, blog này được lập vào đầu tháng 11-2008.
 
13-7-2009: Yahoo! 360° đóng vĩnh viễn. Cộng đồng blogger ViệtNam bị xé nhỏ. Một số tự động chuyển sang dùng Yahoo! 360° Plus. Số khác dùng WordPress, Blogger, Multiply, Weblog, v.v.
 
Sau vụ Yahoo! 360° đóng cửa, Facebook nhanh chóng nổi lên như là mạng xã hội được ưa chuộng nhất. Blog Anh Ba Sàm trở thành điểm “tụ họp” của những người quan tâm đến chính trị. Chủ nhân gọi blog này là “Thông Tấn Xã Vỉa Hè”, một cách gọi có hàm ý giễu nhại Thông Tấn Xã Việt Nam (“Tin vỉa hè” là từ người Việt Nam dùng để chỉ chuyện ngồi lê ngôi mách, tin vịt, tin không được kiểm chứng mà mọi người kháo nhau khi đang ngồi café vỉa hè).
 
Nhiều blog mới về chính trị ra đời trong giai đoạn 2009-2010 như là kết quả của vụ đóng cửa Yahoo! 360°: Quê Choa (http://quechoa.info), Trương Duy Nhất (http://truongduynhat.vn), Nguyễn Xuân Diện, v.v. Quê Choa là của nhà văn, nhà biên kịch Nguyễn Quang Lập. Phong cách hài hước, thậm chí đôi khi tục, của ông được rất nhiều người đọc ưa thích. Trương Duy Nhất là nhà báo, đã tuyên bố nghỉ viết báo chuyên nghiệp để viết blog cho tự do. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện là một người nghiên cứu về ca trù.
 
27-8-2009: Người Buôn Gió bị bắt. Phạm Đoan Trang bị bắt ngày hôm sau, rồi đến Mẹ Nấm vài ngày sau đó. Ba người lần lượt được thả sau 9 ngày đêm.
 
Khoảng tháng 12-2009: Facebook bắt đầu bị chặn.
 
26-10-2010: Cô Gái Đồ Long bị bắt vì đã viết một entry “bôi nhọ” một tướng công an.
 
5-11-2010: Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ bị bắt trong một khách sạn ở TP.HCM sau một vụ “đột kích” của công an.
 
4-4-2011: Phiên xử sơ thẩm ông Cù Huy Hà Vũ. Phiên phúc thẩm tổ chức sau đó bốn tháng, vào ngày 2-8, ông Vũ bị kết án 7 năm tù.
 
26-5-2011: Tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 của PetroVietnam trong vùng đặc quyền kinh tế của ViệtNam. Làn sóng phẫn nộ lan khắp Internet, cả blog lẫn mạng xã hội Facebook. Nhật Ký Yêu Nước (một trang Facebook, thành lập ngày 30-4-2010) kêu gọi biểu tình phản đối Trung Quốc. 
 
5-6-2011: Những cuộc biểu tình đầu tiên nổ ra cả ở Hà Nội và TP.HCM. Trang blog của Nguyễn Xuân Diện và Anh Ba Sàm (nay gọi là Ba Sàm) nổi lên như là hai “điểm hẹn” trên mạng của người biểu tình. Cả hai blog thường xuyên bị hack và tấn công đánh phá, có thể do cả an ninh mạng ViệtNam lẫn lực lượng hacker đỏ của Trung Quốc.
 
Về những blogger một thời nổi tiếng như Hà Kin, Trang Hạ, Trần Thu Trang, Nick D… họ vẫn viết, nhưng cũng đã có thêm nhiều gương mặt mới, cho nên dường như giờ đây chinh phục, thu hút độc giả có phần khó khăn hơn ngày xưa. Hơn nữa, khi mà Việt Nam đang trải qua suy thoái kinh tế thì có lẽ các chủ đề như chuyện tình cảm lãng mạn sẽ bớt được ưa thích. (Không có nghĩa là độc giả sẽ đổ xô sang đọc tin tức về chính trị).
 
9-6-2011: Tàu cá Trung Quốc phá hoại cáp thăm dò của tàu Viking II (cũng của PetroVietnam).
 
12-6-2011: Biểu tình lần thứ hai ở Hà Nội và TP.HCM. Biểu tình ở TP.HCM bị đàn áp. Có những bức ảnh chụp cảnh công an mặc thường phục đánh người biểu tình trẻ trên đường phố Sài Gòn.
 
19-6-2011: Biểu tình lần thứ ba ở Hà Nội và TP.HCM. Đây là cuộc biểu tình lần cuối của blogger TP.HCM trong mùa hè 2011. Với Hà Nội, phong trào xuống đường còn kéo dài cho tới ngày 21-8-2011, khi 47 người bị bắt và một số người bị kết tội “gây rối trật tự công cộng” (cũng tương tự tội “kích động bất ổn xã hội” ở Trung Quốc). 
 
 
* * * * * * *
 
 
English version:
 
A BRIEF HISTORY OF BLOGGING MOVEMENT IN VIETNAM
 

2005: Yahoo! 360° came to Vietnam after officially launched on June 24th.
 
2006-2008: Booming of  Yahoo! 360° which reconfigured a whole new world of Internet media. People wrote, photographed, shared files, and got connected with each other. A generation of “net-writers” was formed as fiction authors wrote chic-lit (chicken literature) including novel, short stories, feulleton, and posted their works to blog everyday. Prominent figures included  Trần Thu Trang, Trang Hạ, Hà Kin, Nick D… Most of them are ladies in their 20s, and most of them stayed away from politics, just focused on their chic-lit works.
 
Some bloggers tried to increase page views by publishing titillation entries and photos, as well as contents related to celebrities: Cô Gái Đồ Long (The Dragon-killing Lady), Only You, Vàng Anh (whose “philosophy” of blogging was “sex, politics and thrillers”, named after a teen star who was involved in a clip sex scandal).
 
There was also a few political bloggers, but none of them was famous yet: Vàng Anh (famous for sex-related entries and thrillers only), Người Buôn Gió, Anh Ba Sàm (former public security officer).
 
Sunday, December 9th, 2007: First protests by bloggers in Hanoi and HCMC against China’s ratification of a plan to set up an administrative region called Sansha City to manage Spratlys and Paracels islands.
 
April 20th, 2008: Blogger Điếu Cày was arrested. He would later be sentenced to 2 years and 6 months in prison for committing “tax evasion”.
 
April 29th, 2008: Youths protested at the Olympic Torch Relay in Hanoi and HCMC. The scope of the protests were rather small.
 
The end of 2008: News about the “great project” of bauxite mining in Tây Nguyên (Central Highland of Vietnam) began to spread on both mainstream media and blogosphere. Emerged a famous political Yahoo! 360° blog which directly attacked the project under the nickname “Change We Need”.
 
This blog provided audience with unverifiable information about the government and their relations with Chinese counterparts. “The Tay Nguyen bauxite mining project will be the grave for Vietnamese communists,” it said.
 
May 24th, 2009: Trần Huỳnh Duy Thức, CEO of One-Connection IT company, was arrested.
 
Mid-2009: Professor Nguyễn Huệ Chi, elementary school teacher Phạm Toàn, and Nguyễn Thế Hùng, Ph.D., set up a website aimed at criticizing the bauxite mining project (http://bauxitevn.info). It was hacked and DOS attacked hundreds of times. The current address is http://boxitvn.blogspot.com; http://boxitvn.wordpress.com  
 
June 13th, 2009: Lawyer Lê Công Định was arrested. It turned out that Thức and Định were behind “Change We Need”, which was created in early November 2008.
 
July 13, 2009: Yahoo! 360° was closed down permanently. The community of bloggers in Vietnam was split up. Some automatically moved to Yahoo! 360° Plus. Others chose WordPress, Blogger, Multiply, Weblog, etc.
 
Following the closedown of Yahoo! 360°, Facebook soon emerged as the most popular social network. Anh Ba Sàm’s blog became a hot “meeting point” for those concerned/ interested in politics. He called his blog “Thông Tấn Xã Vỉa Hè” or Pavement News Agencies, to make a mockery of Vietnam News Agencies. (Pavement news is the Vietnamese idiom to mean “gossips”, “canards”, “unverifiable information” that people tell each other when they are fooling away their time at sidewalk [pavement] cafes).
 
Many new blogs on politics were created in 2009-2010 as a result of the closedown of Yahoo! 360°: Quê Choa (http://quechoa.info), Trương Duy Nhất (http://truongduynhat.vn), Nguyễn Xuân Diện, etc. Quê Choa is owned by Nguyễn Quang Lập, a fiction writer and scriptwriter, whose humourous, even vulgar style was very popular with audience. Trương Duy Nhất is a mainstream reporter, who declared that he quit professional journalism to focus only on blogging as a free man. Nguyễn Xuân Diện, Ph.D., is a researcher on Vietnam’s ca trù (a genre of folk song).
 
August 27th, 2009: Người Buôn Gió was detained. Phạm Đoan Trang was detained on the following day, then came the detention of Mẹ Nấm a few days later. The three were released respectively after a nine-day detention.
 
Around December 2009: Facebook began to be blocked.
 
October 26th, 2010: Cô Gái Đồ Long was arrested for having posted an entry “defaming” a public security officer, General Nguyễn Khánh Toàn. She was accused of committing libel.
 
November 5th, 2010: Cù Huy Hà Vũ was arrested in a hotel in HCMC in what seemed to be a quick ambush by policemen.
 
April 4th, 2011: First trial of Cù Huy Hà Vũ. The appeal court would be held four months later, on August 2nd, when they confirmed the sentence of 7 years imprisonment upon him.
 
May 26th, 2011: Chinese maritime surveillance vessels cut seismic cables of PetroVietnam’s Bình Minh 2 (Dawn 2) vessel in Vietnam’s exclusive economic zone. Burst of anger spread on the Internet, including blogosphere and Facebook. Nhật Ký Yêu Nước (Dairy of Patriotism, a Facebook page created on April 30th, 2010) called on protests against China.
 
Sunday, June 5th, 2011: First protests broke out in both Hanoi and HCMC. Nguyễn Xuân Diện and Anh Ba Sàm (now known as Ba Sàm) emerged as two prominent rallying points for protestors. While Anh Ba Sàm just quoted sources from both mainstream and unmainstream media, adding some satiric comments, Nguyễn Xuân Diện seemed to have “overstepped” by posting even the calls for protests, addressing the place and time to rally. People said this may be part of the reason why Diện has always been in trouble with policemen and he risked being arrested anytime, when Ba Sàm was apparently safe.
 
Both blogs were very often hacked and attacked, arguably by both Vietnamese net police (red guards) and China’s Red Hackers.
 
The once-famous bloggers Hà Kin, Trang Hạ, Trần Thu Trang, Nick D… are not much heard of now. They keep writing, but there have also been many new faces in chic-lit; thus it looks more difficult now for them to win the heart of readers. Moreover, when Vietnam is undergoing economic recession, books on such subjects as imaginary romance, home and family, etc. would possibly become luxurious and superfluous. (This does not necessarily mean that audience will rush to political news and stories instead). 
 
June 9th, 2011: Chinese fishing boats damaged exploration cables of Viking II, another PetroVietam’s vessel.
 
June 12th, 2011: Second protests in Hanoi and HCM. Protestors in HCMC were suppressed brutally. There were photos showing plainclothed policemen knocking down young protestors on the streets of Saigon.
 
June 19th, 2011: Third protests in Hanoi and HCMC. This was the last protest in HCMC. For Hanoi, the movement went on until August 21st, when 47 people were arrested, some of them accused of “disrupting public order” (just like “inciting social disorder” in China).

“Tự ra khỏi Đảng” lặng lẽ

 
 
Bà Hoàng Yến bị Quốc hội khóa XIII bãi nhiệm tư cách đại biểu vì đã không trung thực khi khai lý lịch ứng cứ đại biểu Quốc hội.

Bà từng là đảng viên nhưng không khai điều này. Bà ra khỏi Đảng với hình thức khi chuyển sinh hoạt Đảng bà đã không nộp hồ sơ về địa phương, vì bà “tự thấy mình không còn là đảng viên”. Hình thức ra khỏi Đảng này tạm gọi là “tự ra khỏi Đảng”.

Tình trạng “tự ra khỏi Đảng” theo cách này không phải cá biệt. Tuy chưa có thống kê số lượng trên cả nước là bao nhiêu nhưng nếu thống kê đầy đủ, tôi tin không phải là hai con số. Trước đây, đảng viên bị khai trừ hoặc bị xóa tên mới không còn là đảng viên nữa. Không ai muốn ra khỏi Đảng, vì hai chữ “đảng viên” đối với công dân Việt Nam rất thiêng liêng, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ. Còn bây giờ, một bộ phận đảng viên không còn thiết tha với Đảng nữa, khi hai chữ “đảng viên” không còn có tác dụng đối với họ thì họ tự ra khỏi Đảng. Phải chăng đây cũng là một biểu hiện của sự “suy thoái” đối với một bộ phận đảng viên?

Tự ra khỏi Đảng bằng cách không nộp giấy sinh hoạt Đảng và hồ sơ đảng viên cho tổ chức Đảng nơi mà đảng viên được giới thiệu đến sinh hoạt, gồm nhiều đối tượng như công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước; cán bộ, nhân viên trong các tổ chức xã hội, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an và quân đội…

Trước đây, đảng viên chuyển sinh hoạt Đảng từ nơi này đến nơi khác chỉ được mang theo “Giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt Đảng”. Thậm chí giấy giới thiệu cũng không được mang theo người vì lý do bí mật hoặc đề phòng đảng viên bị hy sinh, bị bắt…, còn hồ sơ đảng viên thì được chuyển qua đường công văn. Khi nhận được hồ sơ đảng viên, tổ chức đảng ở cơ quan, đơn vị mới sẽ tiến hành các thủ tục tiếp nhận đảng viên về sinh hoạt tại cơ quan, đơn vị mình. Có trường hợp đảng viên chưa kịp về cơ quan, đơn vị mới đã hy sinh…

Hiện, không biết theo quy định nào mà đảng viên chuyển sinh hoạt Đảng từ nơi này đến nơi khác được mang cả giấy giới thiệu cùng với hồ sơ “gốc” của đảng viên. Vậy là đến cơ quan, đơn vị mới hoặc về địa phương nơi nghỉ hưu, nếu không muốn là đảng viên nữa hoặc “tự thấy không còn là đảng viên nữa”, họ không nộp giấy sinh hoạt và hồ sơ đảng viên là xong! Về nguyên tắc, tổ chức Đảng ở đơn vị, cơ quan mới không nhận được giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng thì dù biết chắc người này là đảng viên cũng không được công nhận là đảng viên. Còn tổ chức Đảng ở đơn vị, cơ quan cũ đã chuyển sinh hoạt Đảng cho đảng viên do mình quản lý thì hết trách nhiệm. Quản lý đảng viên như thế thì tình trạng “tự ra khỏi Đảng” sẽ ngày càng nhiều, bởi lẽ: Đảng viên đã nhiều năm công tác, nay được nghỉ hưu có tâm lý không muốn tham gia sinh hoạt Đảng; đảng viên chuyển từ cơ quan, tổ chức nhà nước ra ngoài kinh doanh cũng không muốn là đảng viên nữa, nhất là đối với những người làm việc cho các công ty, tổ chức nước ngoài! Việc “tự ra khỏi Đảng” bằng hình thức này không gây ồn ào, bởi họ không “mang tiếng” bị xóa tên hay khai trừ.

Không nộp giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng là hình thức tự ra khỏi Đảng “trong sạch” và dễ dàng nhất mà nhiều đảng viên đang áp dụng.

Đành rằng việc vào Đảng hay ra khỏi Đảng là quyền của mỗi người nhưng khi ra khỏi Đảng cũng nên đàng hoàng, minh bạch. Nếu khi vào Đảng, chi bộ làm lễ kết nạp với đầy đủ thủ tục thì thiết nghĩ, khi một đảng viên muốn ra khỏi Đảng vì lý do sức khỏe hay vì hoàn cảnh cũng nên tổ chức đàng hoàng để ghi nhận những năm cống hiến của đảng viên đó. Cạnh đó, công tác quản lý đảng viên trong trường hợp chuyển sinh hoạt Đảng cũng cần xem lại để tổ chức Đảng nắm được đảng viên khi chuyển sinh hoạt từ nơi này đến nơi khác, không nên để tình trạng đảng viên “tự ra khỏi Đảng” bằng cách không chuyển sinh hoạt Đảng như hiện nay.

ĐINH VĂN QUỄ

Nhân quyền nhất thiết phải được bảo vệ bằng luật pháp

Aung San Suu Kyi

“…Ngày nào các thế lực tiêu cực còn thắng thế các thế lực tích cực ở bất cứ đâu, tất cả chúng ta đều bị đe doạ…”

Diễn từ nhận giải Nobel hoà bình của bà Aung San Suu Kyi

Nếu ai hỏi tôi tại sao tôi đấu tranh cho dân chủ ở Miến Điện, lý do là vì tôi tin rằng những thể chế và thực tiễn dân chủ cần thiết để đảm bảo nhân quyền

  • Kính thưa Đức Vua và Hoàng hậu, Quý Ngài, Quý vị thành viên Ủy Ban Nobel Na Uy, các bạn thân mến,

Cách đây đã rất lâu, có khi tưởng như trong nhiều kiếp trước, tôi ở Oxford ngồi nghe chương trình Desert Island Discs trên đài phát thanh với con trai tôi, cậu bé Alexander. Đây là một chương trình rất phổ biến (và hình như vẫn còn tiếp tục ) phỏng vấn những nhân vật nổi tiếng đủ mọi thành phần về những gì họ sẽ chọn nếu được mang theo đến một hoang đảo 8 đĩa hát, một quyển sách ngoài Thánh kinh và toàn bộ tác phẩm của Shakespeare, và một vật xa xỉ. Hai mẹ con thích thú nghe và khi chương trình chấm dứt, Alexander hỏi tôi có nghĩl à ngày nào đó sẽ được mời lên nói ở Desert Island Discs không. “Tại sao không?”, tôi trả lời vui. Alexander, vì biết là chỉ có những người nổi tiếng mới được mời lên tham dự, nên thật tình hỏi tôi nghĩ là được mời với lý do gì. Ngẫm nghĩ một lúc, tôi trả lời: “Có thể vì mẹ được giải Nobel văn chương” và hai mẹ con cùng bật cười. Viễn tượng ấy đẹp thật đấy nhưng cũng rất xa vời.

(Tôi không nhớ tại sao đã trả lời như thế, có lẽ vì lúc ấy vừa đọc một quyển sách của một tác giả đoạt giải Nobel, hay vì nhân vật phát biểu trên chương trình Desert Island hôm ấy là một nhà văn nổi tiếng.)

Năm 1989, khi người chồng đã quá cố của tôi, Michael Aris, đến thăm lúc tôi bị quản thúc lần đầu, anh bảo tôi là John Finnis, một người bạn, đã đề cử tôi cho giải Nobel hoà bình. Tôi cũng bật cười. Thoạt tiên Michael có vẻ ngạc nhiên và anh hiểu ra ngay tại sao tôi cười. Giải Nobel hoà bình ư ? Viễn tượng đẹp thật đấy nhưng hầu như bất khả! Thế thì tôi đã cảm thấy gì khi thật sự được trao giải Nobel hoà bình? Câu hỏi ấy tôi đã được nghe nhiều lần và đây quả là dịp hay nhất để suy nghĩ về ý nghĩa của giải Nobel hoà bình đối với tôi và ý nghĩa của hoà bình đối với tôi.

Như tôi đã nhiều lần trả lời phỏng vấn, tin được giải Nobel hoà bình đến với tôi qua đài phát thanh một buổi tối. Không hẳn là bất ngờ vì tôi đã được nhắc nhở đến như một trong những người có nhiều khả năng được giải trong nhiều buổi phát thanh từ tuần trước. Khi viết bài diễn từ này, tôi đã rất cố gắng nhớ lại phản ứng đầu tiên của mình khi nghe tin. Hình như là, tôi không chắc lắm: “Ơ, hoá ra là họ chọn mình thật”. Không biết là thực hay là mơ vì lúc ấy tôi cũng mơ hồ về hiện thực của chính bản thân.

Trong những tháng ngày bị quản thúc, tôi nhiều khi cảm thấy mình không còn thuộc về thế giới thực. Đây căn nhà, thế giới của tôi, và đây thế giới của những người khác cũng không có tự do nhưng sống chung trong nhà tù như một cộngđồng. Và kia là thế giới của những người tự do, mỗi thế giới là một hành tinh theo đuổi quỹ đạo riêng của mình trong một vũ trụ dửng dưng. Giải Nobel hoà bình đã đưa tôi trở lại thế giới của những con người khác, ngoài khu vực cách biệt tôi sống, đã cho tôi có lại nhận thức của hiện thực. Tất nhiên điều này không xảy ra ngay lúc ấy nhưng với thời gian và các phản ứng về quyết định trao giải đến qua các kênh truyền thông, tôi dần dần hiểu ý nghĩa của giải Nobel. Nó đã cho tôi đã trở lại thành con người thực, đã đưa tôi vào trở lại cộng đồng lớn của nhân loại. Và quan trọng hơn nữa, giải Nobel đã làm thế giới chú ý đến cuộc tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền ở Miến Điện. Chúng tôi sẽ không bị bỏ quên.

Bị bỏ quên. Người Pháp nói ra đi là chết một phần. Bị bỏ quên cũng là chết một phần. Là mất đi một phần những gì gắn chặt chúng ta với đồng loại. Khi tôi gặp những người Miến tị nạn và lao động di trú trong chuyến đi thăm Thái Lan gần đây, nhiều người kêu to: “Xin đừng quên chúng tôi!”. Họ muốn nói: “Đừng quên nỗi cơ cực của chúng tôi, đừng quên làm những gì có thể làm được để giúp chúng tôi, đừng quên là chúng tôi cũng thuộc về thế giới của mọi người”. Khi Uỷ ban giải Nobel trao giải hoà bình cho tôi, họ đã xác nhận những người bị kềm kẹp và phong toả ở Miến Điện cũng là một phần của thế giới, họ đã xác nhận nhân loại là một. Cho nên, đối với tôi, nhận giải Nobel hoà bình là tự mình nới rộng những khát vọng dân chủ và nhân quyền của mình ra ngoài biên giới lãnh thổ. Giải Nobel hoà bình đã mở rộng một cánh cửa trong trái tim tôi.

Có thể giải thích hoà bình trong quan niệm người Miến là hạnh phúc đạt được khi không còn những nhân tố chống đối sự hài hoà và trong lành. Từ ngữ “nyein-chan” có nghĩa nôm na là cơn mát dịu an lành sau khi lửa tắt. Lửa của khổ đau và xung đột đang hoành hành trên thế giới. Trong nước tôi, sự thù địch vẫn tiếp diễn ở vùng Bắc, bạo loạn cộng đồng ở vùng Tây dẫn đến đốt nhà, chém giết chỉ vài hôm trước khi tôi lên đường đến đây. Tin tức về những sự kiện tàn ác nhan nhản từ những nơi khác trên trái đất. Những bản tin về đói kém, bệnh tật, di tản, thất nghiệp, nghèo túng, bất công, kỳ thị, định kiến, cuồng tín đến với chúng ta như cơm bữa. Đầy rẫy khắp nơi là những thế lực tiêu cực gặm nhấm nền tảng của hoà bình. Hiển nhiên khắp nơi là sự lãng phí vô ý thức những tài nguyên vật chất và nhân lực cần thiết để giữ gìn sự hài hoà và hạnh phúc trong thế giới của chúng ta.

Đệ nhất thế chiến là một sự phí phạm kinh hoàng tuổi trẻ và tiềm lực, một sự phung phí cay nghiệt những thế lực tích cực của trái đất chúng ta. Thơ ca của thời kỳ ấy có ý nghĩa sâu sắc đối với tôi vì tôi đọc chúng lần đầu ở tuổi của những người thanh niên phải đối mặt với viễn tượng vừa chớm nở thì đã héo tàn. Một người lính Mỹ trẻ trong quân đội Lê dương Pháp viết trước khi chết trận năm 1916 là anh ta sẽ gặp tử thần “ở một chiến tuyến gay go nào đó”, “trên con dốc loang lổ của một ngọn đồi bị bằm dập”, “vào nửa đêm trong một thành phố rực lửa”.Tuổi trẻ, tình yêu và cuộc sống vĩnh viễn tiêu tán trong những nỗ lực phi lý để giành chiếm những nơi chốn không tên và không đi vào ký ức. Và để làm gì ? Gần một thế kỷ sau, chúng ta vẫn chưa tìm được câu trả lời thoả đáng.

Tuy một cách ít hung bạo hơn, chúng ta phải chăng vẫn mang tội coi thường và khinh suất tương lai chúng ta và nhân loại ? Chiến tranh không phải là lĩnh vực duy nhất hoà bình bị bóp chết. Ở nơi nào sự khổ đau không được ghi nhận, ở nơi đó có mầm mống của xung đột vì sự khổ đau gây ô nhục, gieo rắc cay đắng và nung nấu lửa giận.

Sống trong cách ly cũng có mặt tích cực là tôi có dư thì giờ để suy ngẫm về ý nghĩa của câu chữ và những châm ngôn tôi đã được học và chấp nhận trong cả cuộc đời. Là Phật tử, từ khi còn bé tôi đã được nghe nói đến “duhkha”, thường được dịch là khổ não. Gần như mỗi ngày, tôi nghe quanh tôi những người lớn tuổi, và có khi cả những người chưa gọi là già, lẩm bẩm “dukha, dukha” khi họ đau nhức hay bực mình vì một chuyện vớ vẩn nào đó. Song chỉ trong những năm tháng bị quản thúc tôi mới thật sự nghiên cứu bản chất của sáu nỗi khổ chính: sinh, lão, bệnh, tử, phải sống xa người thân yêu, buộc phải sống chung đụng với người mình không ưa thích. Tôi suy nghĩ về từng nỗi khổ, không trong bối cảnh tôn giáo mà trong cuộc sống thường, hàng ngày. Nếu khổ đau là một phần không thể tránh của cuộc đời, chúng ta phải cố giảm nhẹ càng nhiều càng tốt bằng những cách thực tiễn và trần tục. Tôi ngẫm nghĩ về hiệu quả của những chương trình bảo vệ bà mẹ và trẻ em, trước và sau khi sinh; về những cơ cấu thích đáng cho người già; về các dịch vụ y tế toàn vẹn; về sự chăm lo tận tuỵ cho những người bệnh tật, già yếu. Tôi đặc biệt thắc mắc về hai nỗi khổ cuối: phải sống xa người thân và sống gần người dưng. Đức Phật đã phải trải nghiệm những gì trong chính cuộc đời của ngài để đưa hai trạng thái này vào danh sách những nỗi khổ lớn? Tôi nghĩ đến những kẻ bị tù đày và những người tị nạn, những người lao động xa xứ và những nạn nhân của nạn buôn người, đến hằng hà vô số những người lưu lạc trên trái đất, bị bứng ra khỏi quê hương làng mạc, biệt ly gia đình bạn bè, bắt buộc phải sống cả cuộc đời giữa những người xa lạ không phải ai cũng chào đón họ.

Chúng ta may mắn sống trong một thời kỳ mà phúc lợi xã hội và giúp đỡ nhân đạo được công nhận như một việc không chỉ nên làm mà còn phải làm. Tôi may mắn sống trong một thời kỳ mà số phận của những tù nhân lương tâm ở bất cứ đâu đã trở thành mối quan tâm của mọi người ở khắp nơi, dân chủ và nhân quyền được chấp nhận rộng rãi, dù không phải trong mọi nước, như quyền mỗi người đều có từ khi sinh ra. Biết bao lần trong những năm tháng bị quản thúc tôi đã tự động viên qua những đoạn tâm đắc nhất của lời nói đầu Bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền:

….Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn sợ hãi và nghèo khó, được tuyên xưng là ước vọng cao nhất của con người.

….Nhân quyền nhất thiết phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải dùng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức …

Nếu ai hỏi tôi tại sao tôi đấu tranh cho nhân quyền ở Miến Điện, những đoạn trên là câu trả lời. Nếu ai hỏi tôi tại sao tôi đấu tranh cho dân chủ ở Miến Điện, lý do là vì tôi tin rằng những thể chế và thực tiễn dân chủ cần thiết để đảm bảo nhân quyền.
Trong năm qua, có những dấu hiệu cho thấy các cố gắng của những người tin vào dân chủ và nhân quyền đã bắt đầu có kết quả. Đã có những thay đổi trong chiều hướng tích cực; đã có những bước tiến tới dân chủ hoá. Nếu tôi chủ trương lạc quan một cách thận trọng, không phải là vì tôi không tin ở tương lai mà là vì tôi không muốn khuyến khích một sự tin tưởng mù quáng. Nếu không tin ở tương lai, không tin chắc rằng những giá trị dân chủ và quyền cơ bản của con người không những cần thiết mà còn khả thi cho xã hội chúng tôi, phong trào của chúng tôi đã không thể tồn tại trong suốt những năm tháng bị truy diệt ấy. Có người đã ngã xuống ở vị trí tranh đấu, có người đã bỏ hàng ngũ,nhưng một thành phần nòng cốt vẫn vững vàng kiên quyết . Khi hồi tưởng về những năm đã qua, tôi sửng sốt trước số đông đảo những người vẫn kiên trì trong những lúc gian khổ nhất. Họ tin tưởng vào chính nghĩa với một niềm tin không mù quáng mà dựa vào một đánh giá sáng suốt : họ biết sức chịu đựng của chính mình, họ hết sức kính phục những khát vọng của nhân dân đồng bào.

Tôi có mặt với quí vị ngày hôm nay là nhờ những thay đổi gần đây trong nước tôi, và những thay đổi ấy đã có thể xảy ra là nhờ quí vị và những người yêu hoà bình và công lý khác đã góp phần làm thế giới nhận thức tình hình của chúng tôi. Trước khi nói tiếp về Miến Điện, tôi xin phép được nói cho những tù nhân lương tâm của chúng tôi. Vẫn còn có những tù nhân ấy ở Miến Điện.Điều đáng lo là sau khi những tù nhân nổi tiếng nhất được trả tự do, những người khác, không ai biết tên tuổi, sẽ bị bỏ quên. Tôi đứng đây vì tôi đã từng là một tù nhân lương tâm. Khi quí vị nhìn và nghe tôi đây, tôi xin quí vị nhớ đến câu nói rất đúng và vẫn thường nghe này: chỉ một tù nhân lương tâm thôi cũng đã là quá nhiều. Những người chưa được trả tự do, chưa được hưởng công lý ở nước tôi đông hơn con số một nhiều lắm. Tôi mong quí vị nhớ đến họ và làm tất cả những gì có thể làm để họ được thả trong thời hạn nhanh nhất và vô điều kiện.

Miến Điện là nước tập hợp nhiều sắc tộc và niềm tin vào tương lai chỉ có thể dựa vào một tinh thần đoàn kết thật sự. Từ khi chúng tôi dành được độc lập năm 1948, chưa có lúc nào chúng tôi có thể nói cả nước được hoà bình. Chúng tôi đã không xây dựng được sự tin cậy và cảm thông cần thiết để xoá bỏ các nguyên nhân xung đột. Những thoả thuận ngừng bắn áp dụng từ đầu thập niên 1990 cho đến 2010 đã đem lại hi vọng nhưng sụp đổ chỉ trong vài tháng. Chỉ một hành động thiếu suy nghĩ là đủ để chấm dứt một thời gian dài ngừng bắn. Trong những tháng qua, thương thuyết giữa chính quyền và các lực lượng sắc tộc đã có tiến bộ. Chúng tôi hi vọng các thoả thuận ngừng bắn sẽ dẫn đến giải pháp chính trị dựa trên ước vọng của dân chúng và tinh thần đoàn kết.

Đảng Liên minh quốc gia cho dân chủ của chúng tôi và bản thân tôi sẵn sàng đóng mọi vai trò trong công cuộc hoà giải dân tộc. Những biện pháp cải cách được nội các của Tổng thống U Thein Sein đưa vào áp dụng chỉ có thể giữ vững được với sự hợp tác thông minh của tất cả mọi thế lực trong nước: quân đội, các sắc tộc, các đảng phái, các phương tiện truyền thông, các đoàn thể của xã hội dân sự, giới kinh doanh và nhất là công chúng. Có thểnói cải cách chỉ có hiệu quảkhi đời sống người dân được nâng cao và ở đây cộng đồng quốc tế đóng vai trò then chốt. Các viện trợ phát triển và giúp đỡ nhân đạo, các hiệpước song phương và luồng đầu tư cần phải được phối hợp và điều chỉnh để đảm bảo một sự phát triển xã hội, chính trị và kinh tế cân bằng và bền vững. Tiềm năng của đất nước chúng tôi rất to lớn. Nó phải được nuôi dưỡng và phát huyđể tạo một xã hội không những phồn thịnh hơn mà còn hài hoà và dân chủ hơn trong đó nhân dân chúng tôi có thể sống hoà bình, an toàn và tự do.

Hoà bình trong thế giới chúng ta là một tổng thể không thể chia cắt. Ngày nào các thế lực tiêu cực còn thắng thế các thế lực tích cực ở bất cứ đâu, tất cả chúng ta đều bị đe doạ. Có thể e rằng chả bao giờ có thể trừ diệt tất cả mọi thế lực tiêu cực. Câu trả lời đơn giản là: “Không!”. Bản chất của con người là có cả tiêu cực lẫn tích cực. Song con người cũng có khả năng củng cố tích cực và giảm thiểu hoặc vô hiệu hoá tiêu cực. Hoà bình tuyệt đối trong thế giới chúng ta là mục tiêu không thể đạt được. Nhưng đấy là một mục tiêu chúng ta phải tiếp tục đeo đuổi, không lúc nào rời mắt như ngườiđi trong sa mạc dõi theo ngôi sao dẫn dắt mình đến nơi an toàn. Dù chúng ta không thực hiện được hoà bình vẹn toàn trên trái đất này, những nỗ lực chung để tiến đến hoà bình sẽ gắn bó các cá nhân và quốc gia trong tinh thần tin cậy và hữu nghị, giúp cộng đồng nhân loại của chúng ta trở thành một nơi an toàn và nhân ái hơn.

Tôi dùng chữ “nhân ái” sau khi đã cân nhắc kỹ, có thể nói sau nhiều năm cân nhắc kỹ. Trong những cái may của cơn hoạn nạn, và xin nói ngay chúng không nhiều đâu, cái may nhất, quí giá nhất đối với tôi là bài học rút ra về giá trị của sự nhân ái. Mọi nghĩa cử nhân ái tôi nhận được, lớn hay nhỏ, đã thuyết phục tôi là sự nhân ái dù nhiều bao nhiêu cũng vẫn không đủ trong thế giới của chúng ta. Nhân ái làđáp lại với nhạy cảm và tình người những khát vọng và nhu cầu của người khác. Một thoáng nhân ái thôi cũng làm nhẹ bớt một tâm hồn u uất. Nhân ái có thể làm đổi đời. Na Uy đã là tấm gương sáng của sự nhân ái, cho người lưu vong có lại mái nhà, cho người bị tước quyền sống yên ổn và tự do tại quê hương họ có nơi ẩn náu.

Người tị nạn có mặt khắp mơi trên thế giới. Khi tôi đến trại tị nạn Maela ở Thái Lan vừa qua, tôi gặp những người tận tuỵ hàng ngày tìm cách giúp cuộc sống người trong trại bớt khó khăn vất vả.Họ lo lắng về hiện tượng “mạnh thường quân nản lòng”, cũng có thể gọi là hiện tượng“nản lòng trắc ẩn”. “Mạnh thường quân nản lòng” thể hiện cụ thể qua sự giảm sút các luồng tài trợ. “Nản lòng trắc ẩn”, khó thấy hơn, làm giảm sút sự quan tâm. Cái này là hậu quả của cái kia. Chúng ta có thể nào tự cho phép nản lòng trắc ẩn? Đáp ứng nhu cầu của những người tị nạn có tốn kém hơn cái giá sẽ phải trả nếu thờ ơ, thậm chí ngoảnh mặt làm ngơ trước khổ đau của họ ? Tôi kêu gọi các mạnh thường quân mọi nước hãy đáp ứng nhu cầu của những người đi tìm, có khi vô vọng, một chốn nương thân.

Tại Maela, tôi đã có những trao đổi rất bổ ích với những viên chức Thái trách nhiệm quản lý tỉnh Tak nơi có trại này và nhiều trại khác. Họ cho tôi biết một số vấn đề lớn nhất của các trại tị nạn: vi phạm luật bảo vệ rừng, sử dụng ma tuý trái phép, nấu rượu lậu, những khó khăn trong việc bài trừ các bệnh sốt rét, lao, sốt xuất huyết và thổ tả. Những quan ngại của cơ quan quản lý cũng chính đáng như những quan ngại của người tị nạn. Những nước đón nhận người tị nạn cũng phải được coi trọng và giúp đỡ cụ thể để khắc phục những khó khăn gắn liền với trách nhiệm của họ.

Nói cho cùng, mục đích của chúng ta là tạo ra một thế giới không còn người lưu vong, vô gia cư và vô vọng, một thế giới trong đó mỗi mảnh đất thật sự là nơi ẩn náu cho phép tất cả sống trong tựdo và hoà bình. Mọi ý nghĩ, mọi câu nói, mọi hành động làm tăng lên sự tích cực và trong lành đều đóng góp cho hoà bình. Mỗi người trong chúng ta đều có thể có những đóng góp ấy. Chúng ta hãy nối tay nhau chung sức tạo một thế giới hoà bình trong đó chúng ta có thể an nhiên đi vào giấc ngủ và thức dậy trong hạnh phúc.

Uỷ ban Nobel đã kết luận bản thông cáo ngày 14/10/1991 bằng câu: “ Trao giải Nobel hoà bình… cho Aung San Suu Kyi, Uỷ ban Nobel Na uy có dụng ý vinh danh những nỗ lực bền bỉ của người phụ nữ này và bày tỏ sự ủng hộ đối với những dân tộc đang đấu tranh trong nhiều nơi trên thế giới cho dân chủ, nhân quyền và hoà giải dân tộc bằng những phương tiện hoà bình”. Khi tôi gia nhập phong trào dân chủ ở Miến Điện, tôi không hề nghĩ ngày nào đó sẽ được trao giải thưởng hay vinh dự gì. Giải thưởng chúng tôi mong có được là một xã hội tự do, yên ổn và công bằng trong đó đồng bào chúng tôi có thể phát huy tất cả mọi tiềm năng. Sự vinh dự nằm trong nỗ lực ấy. Lịch sử đã cho chúng tôi cơ hội cống hiến mọi sức lực cho chính nghĩa mà chúng tôi tin tưởng. Khi Uỷ ban Nobel chọn vinh danh tôi, tôi đã bớt cô đơn đi tiếp trên con đường mình đã tự nguyện chọn. Vì thế tôi tạ ơn Uỷ ban, nhân dân Na uy và nhân dân mọi nước, sự hỗ trợ ấy đã củng cố niềm tin của tôi vào sự phấn đấu chung cho hoà bình. Xin được cảm tạ.

Nguyên bản tiếng Anh: “Aung San Suu Kyi – Nobel Lecture”. Nobelprize.org
Bản tiếng Việt : Đỗ Tuyết Khanh
Nguồn: Saigon Echo

Việt Nam thông qua Luật Biển khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa-Trường Sa…

Nguồn RFI Tiếng Việt

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á khác (DR)

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông là đối tượng tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á khác (DR)
 
 
Hôm nay 21/06/2012 Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Biển, trong đó khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngay lập tức Trung Quốc đã lên tiếng kịch liệt phản đối. Theo báo chí Việt Nam, Luật Biển đã được 495/496 đại biểu bỏ phiếu tán thành.

Đại biểu Quốc hội đồng thời là nhà sử học Dương Trung Quốc đã xác nhận với AFP việc Quốc hội Việt Nam hôm nay đã thông qua Luật Biển, trong đó có đoạn « khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ». Tuy nhiên, ông cho biết bộ luật này chưa được công bố trong nhiều ngày tới. Còn theo báo chí Việt Nam, Luật Biển đã được 495/496 đại biểu bỏ phiếu tán thành, đạt tỉ lệ 99,2%.

Ông Dương Trung Quốc nói thêm : « Việc thông qua Luật Biển hôm nay là rất quan trọng đối với Việt Nam. Luật này sẽ củng cố việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ». Ông nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên Việt Nam có được một bộ luật về Biển Đông.

Ngay lập tức Trung Quốc đã kịch liệt phản đối. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân đã triệu đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, ông Nguyễn Văn Thơ, lên để chính thức trao kháng nghị. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi trong cuộc họp báo hôm nay tuyên bố, Trung Quốc cực lực phản đối và kiên quyết bác bỏ việc Việt Nam xem cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển bao quanh là lãnh thổ Việt Nam.

Ông Hồng Lỗi nhấn mạnh : « Các hành động đơn phương của Việt Nam làm phức tạp và mở rộng thêm vấn đề, đi ngược lại với thỏa thuận đã đạt được giữa lãnh đạo hai nước (…) nhằm phục vụ cho hòa bình và ổn định tại Biển Đông. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam chấm dứt mọi hành động sai trái, và cần sửa chữa ngay lập tức».

Chính quyền Bắc Kinh hôm nay cũng loan báo, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa, thay cho Văn phòng quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa), Nam Sa (tức Trường Sa) và Trung Sa thuộc tỉnh Hải Nam, và trụ sở chính quyền thành phố đặt tại đảo Vĩnh Hưng ở Tây Sa. Như vậy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được phía Trung Quốc nâng cấp về mặt hành chính, vì trước đây Hoàng Sa thuộc trấn Tây Sa, còn Trường Sa thuộc trấn Nam Sa. Thông tin này được đưa lên trang web của Bộ Dân chính Trung Quốc.

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giàu tài nguyên hải sản cũng như dầu khí, lại nằm trên một tuyến đường hàng hải quan trọng, lâu nay vẫn bị Việt Nam và Trung Quốc tranh chấp. Trước đây vào năm 1974, Trung Quốc đã đánh chiếm Hoàng Sa từ tay quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Còn quần đảo Trường Sa hiện cũng đang bị các nước Philippines, Brunei, Malaysia và Đài Loan đòi hỏi chủ quyền một phần hay toàn bộ.