Đi nước ngoài hai năm bị xóa thường trú? (Chết toi mình rồi, mình đi được gần 7 năm, thế thì chắc xoá luôn cả gốc gác ấy nhỉ)

 
Little Saigon ở California

Nhiều người Việt làm ăn sinh sống ở nước ngoài

Dự thảo Luật cư trú vừa được trình lên Quốc hội đề xuất xóa đăng ký thường trú đối với người đi nước ngoài hai năm trở lên, người bị đi tù, hoặc công dân đi bộ đội.

Báo trong nước đưa tin ông Phạm Quý Ngọ, Thứ trưởng Công an, đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú trong phiên họp của Thường vụ Quốc hội sáng thứ Ba 26/2.

Dự thảo này bị đánh giá là khá nghiêm khắc trong việc siết chặt quản lý nhập cư và điều kiện thường trú.

Theo đó, “cơ quan có thẩm quyền sẽ xóa đăng ký thường trú”, tức hộ khẩu, với các trường hợp người Việt Nam xuất cảnh ra nước ngoài từ hai năm trở lên, cũng như người thực hiện án tù và công dân đi bộ đội.

Lập luận của Trung tướng Phạm Quý Ngọ cho quy định này là “đăng ký thường trú ở đâu thì công dân phải thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của mình ở đó, do vậy nếu đi quá hai năm thì tạm xóa rồi sau đó khi về đăng ký lại”.

Ông Ngọ cũng hứa việc đăng ký lại sẽ nhanh chóng và dễ dàng.

Phản đối mạnh

Đề xuất này ngay lập tức gây ra phản ứng ngay cả trong các cấp cao của Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng được các báo dẫn lời nói: “Cớ gì tôi đi nước ngoài mà ông ở nhà xóa tên tôi, đến quốc tịch mà tôi còn được giữ nữa là?”

Theo ông Sinh Hùng, “con người ta càng ngày càng tự do, tự do cư trú là quyền cơ bản”.

“Tự do gì mà tôi vừa ra khỏi nhà đi nước ngoài một cái thì ông bảo ông xóa tên tôi trong sổ? Cái sổ của ông rất to, ông chỉ cần chú thích trong đó là tôi đi vắng, chứ làm gì phải xóa?”

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý cũng cho rằng đề xuất trên “không bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân đã được quy định trong Hiến pháp”.

Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Văn Hiện bổ sung: “Đăng ký thường trú là quyền bất khả xâm phạm của công dân”.

Nhập cư khó hơn

Theo dự thảo Luật cư trú sửa đổi, điều kiện nhập cư cũng khó khăn hơn.

Công dân Việt Nam sẽ được nhập cư vào các thành phố lớn trực thuộc Trung ương nếu có một trong các điều kiện: “Có nhà ở hợp pháp thuộc sở hữu của mình; có chỗ ở hợp pháp mà không phải là nhà ở thuộc sở hữu của mình và tạm trú liên tục từ 2 năm trở lên; được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu là người thành niên độc thân về sống với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột; ông, bà nội, ngoại về ở với cháu ruột”.

Các thỏa thuận đồng ý cho nhập khẩu đều phải được lập thành văn bản, có xác nhận của chính quyền địa phương hoặc công chứng.

Nơi đề nghị đăng ký thường trú phải là nơi đang tạm trú. Dự thảo bổ sung điều khoản cấm cho người khác đăng ký hộ khẩu và cấm ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với mục đích nhập hộ khẩu.

Tổ tiên nhà văn ấy trước kia ở đâu?

FB Người Buôn Gió
19-2-13

 

Người Buôn Gió

Mấy hôm rồi Tết bận bịu, có đọc được bài viết của nhà văn, phó giáo sư , tiến sĩ, sĩ quan quân đội hàm trung gì đó nói rằng – bỏ điều 4 là nguy hiểm đe doạ tồn vong của dân tộc.

Vậy điều 4 là điều gì mà quan trọng đến tồn vong của dân tộc thế. Nó liên quan đến mức độ nào?

Điều 4 này là điều 4 trong hiến pháp, nó liên quan nhiều đến sự cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam vì nhắc đến vai trò của Đảng này. Điều 4 ghi là ĐCSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước.

Điều 4 này có trong hiến pháp từ năm 1992 đến nay được hơn 20 năm, tính từ năm 1945 khi nắm quyền đến nay thì ĐCSVN lãnh đạo đất nước gần 70 năm.

Nhà văn trung tá quân đội, PGS, TS kia bằng lập luận theo ông ta gọi là có lý, có tình. Lý là ĐCS cướp được chính quyền từ chính quyền bù nhìn thân Pháp thì đương nhiên là phải được lãnh đạo đất nước. Tình của ông nêu ra là bấy lâu nay ĐCS của ông hy sinh bao xương máu, cho nên phải được đền đáp bằng việc nắm quyền ghi trong hiến pháp là điều tất nhiên.

Lập luận này thật phi lý và thật phản động.

Phản động ở chỗ, nói theo kiểu ấy thì đầy tính chợ búa, dạng như ai cướp được thì người ấy có quyền dùng. Chẳng cần là chính nghĩa chính ngheo gì cả. Mai này lỡ có thế lực xấu xa nào đó cướp được chính quyền tốt đẹp của ĐCS VN quang vinh, thì thế lực ấy nghiễm nhiên lại có quyền lãnh đạo đất nước Việt Nam này, dù chúng xấu xa đủ tội như tham nhũng,độc tài, áp bức và bóc lột nhân dân, can tâm làm tay sai cho ngoại bang dâng đất đai, biển đảo. Như thế chúng cũng tự cho mình là chính nghĩa hơn ĐCSVN đầy chính nghĩa thực.

Rồi chưa kể trong khi cướp chính quyền do ĐCSVN quang vinh lãnh đạo, chúng bị an ninh ĐCS bắt bỏ tù, bị quân đội trung thành với ĐCS càn quét trấn áp khiến chúng thiệt hại vô số. Sau này chúng lại kể lể lý tình đau thương, mất mát như kiểu nhà văn này, thì nhân dân ta sẽ không thể biết được ĐCS VN ta trước kia quang minh, chính nghĩa nhường nào. Vì khi ấy chúng sẽ độc quyền tuyên truyền, dùng lương hưu làm mồi nhử cho những tên bồi bút phải vì miếng cơm, manh áo cúi đầu phục vụ cho chúng lừa mị nhân dân. Chúng xoá sạch những điều tốt đẹp của ĐCSVN vinh quang và thay thế bằng những điều vu không, bịp bợm. Thế thì chả công bằng cho ĐCSVN tí nào.

Lẽ ra nhà văn trung tá ấy phải nghĩ một cách lập luận nào cho nhân văn và bất biến hơn là một lập luận lý tình kiểu giang hồ đạo tặc ấy. Kiểu như ĐCS Việt Nam là hun đúc của dân tộc, là tinh hoa của đất nước. Nếu không để tinh hoa lãnh đạo thì rõ ràng dân tộc ấy suy vong. Như thế cũng còn có chút lý hơn và đúng đắn với quy luật sinh tồn hơn, vì dân tộc nào cũng cần phải có lớp người tinh hoa nhất lãnh đạo. Tức là để cho nhân dân tự đánh giá về vai trò lãnh đạo của gia cấp, triều đại nào và lựa chọn, như thế mới nhân văn và trường tồn bất biến được.

Đáng tiếc là nhà văn quân đội lại kết luận đầy sơ hở ngay rằng – bỏ điều 4 là đe doạ sự tồn vong của dân tộc.

Vậy trước khi có điều 4 quy định ĐCSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo, thì dân tộc Việt Nam này tồn tại đến ngày nay bởi điều gì. Mấy nghìn năm qua dựng nước, giữ nước qua bao nhiêu triều đại lãnh đạo, cầm quyền dân tộc Việt Nam này tồn hay vong?

Không hiểu sao ông nhà văn này suy luận ngây thơ thế. Tổ tiên của nhân dân Việt Nam vẫn tồn tại từ xưa đến nay. Được mấy nghìn năm rồi lịch sử rành rành ra đó, bỗng hôm nay xuất hiện ông, phán câu xanh rờn là vậy. Hay là tổ tiên ông trước kia không ở trên mảnh đất Việt Nam này, không sống cùng dân tộc này. Mà mới cách đấy 20 năm, khi có điều 4 hiến pháp, gia đình ông mới từ đâu sang đây sinh sống. Cho nên ông chỉ biết đến quãng thời gian đó mà thôi?

Nếu vậy xin ông gác bỏ mấy cái bằng PGS, TS để nghe thằng học chưa hết cấp 3 này nói.

– Dân tộc này khi chưa có điều 4 như hiện nay, đã tồn tại mèng nhất cũng 2 ngàn năm. Chả cần bằng cấp gì, chỉ cần thoát nạn mù chữ là biết được điều đó.

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979

17/02/2013 2:30

Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược – Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Thiếu tướng Lê Văn Cương

Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15… hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt – Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được.

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 – Ảnh: Tư liệu

Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai,  trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ?

Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ng.Phong
(thực hiện)

Trong cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979: Quân đội Trung Quốc đã thương vong bao nhiêu?

 

Nghĩa địa lính Trung Quốc ở Malipo (Ma Lật Pha) —
Xem bài Was the War Pointless? China Shows How to Bury It

 

   Tam Dương
Tóm lược và giới thiệu

 

Tháng 2 năm 1979 quân đội Trung Quốc bất ngờ tấn công vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Chúng đã bị các đơn vị quân đội, dân quân du kích và đồng bào ta anh dũng đánh trả, và bị thiệt hại nặng nề.

Gần đây phía Trung Quốc đã nửa kín nửa hở công bố một vài con số cụ thể. Dưới đây là một số tư liệu lấy từ hai bài viết của người Trung Quốc giấu tên nhưng lại được đăng tải trên các mạng chính thức của Trung Quốc về  sự thiệt hại này.

  

“Trước tiên cần làm rõ số thương vong của quân ta là bao nhiêu? Truyền thông Việt Nam nói đã tiêu diệt hơn 3 vạn quân ta, con số này rõ ràng là phóng đại. Tổng số quân đội tham chiến của chúng ta là 20 vạn người, trong tình hình tiêu diệt gần 1/6 quân ta mà lại để mất Việt Bắc, cho thấy rõ sự khiếp sợ, yếu kém của quân đội Việt Nam. Con số 3 vạn người rõ ràng là nói quá. Báo “Quân giải phóng” của quân đội ta nói, chúng ta thương vong 4000 người, con số này cũng rõ ràng là đã bị bóp nhỏ. Con số thương vong cụ thể của quân đội ta luôn luôn là một câu đố không giải được trong tôi. Nhưng gần đây trong một dịp may được gặp nhà văn già Lý Tồn Bảo (tác giả cuốn “Vòng hoa dưới chân núi” có thể coi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Trung Quốc về cuộc chiến này và đã được dịch giả Dương Danh Dy chuyển ngữ sang tiếng Việt) câu đố trên mới được giải.

“Lý Tồn Bảo là phóng viên chiến tranh, năm 1979 đã từng theo bộ đội ta sang đánh Việt Nam. Để viết cuốn “Vòng hoa dưới chân núi” ông đã được Phó Chủ tịch quân ủy TƯ lúc đó là Diệp Kiếm Anh cho phép tiếp xúc với nhiều tài liệu tuyệt mật, vì vậy những điều ông kể là khách quan chân thực.

“Theo Lý Tồn Bảo số thương vong chân thực của quân đội ta trong cuộc đánh trả tự vệ Việt Nam phải là 27000 người, trong đó số sĩ quan và binh lính bị chết là hơn 6000 người, số bị thương là hơn 21.000 người. Điều đáng lưu ý là trong số hơn 6000 người chết đó có tới hơn 500 người chết vì vũ khí quá kém của chúng ta lúc đó.

“Trong tiến trình chiến đấu, tỷ lệ tử vong mấy ngày đầu khá cao, cá biệt có đại đội bị hy sinh tới 90% quân số. Nhìn chung thương vong ở tuyến phía đông (do Hứa Thế Hữu chỉ huy đánh vào 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh-ND) lớn hơn  tuyến phía tây (do Dương Đắc Chí chỉ huy đánh vào mấy tỉnh còn lại-ND), xe tăng và thiết giáp bị bắt sống, bắn hỏng khá nhiêu, cũng ở mặt trận này đã có 1 đại đội bị bắt làm tù binh, có đại đội khi về nước chỉ còn mươi người, có tiểu đội không còn tới một, hai người (nghĩa là gần chết hết-ND).

“Một trong mục đích của cuộc chiến tranh này là “vây Ngụy cứu Triệu”, tức là đánh ở đây nhằm kéo quân đội Việt Nam đang ở tại Cămpuchia về để tiêu diệt, nhưng Việt Nam không mắc mưu.”

Một nguồn tin khác nói là lấy tư liệu từ bản “Tổng kết công tác đánh trả tự vệ Việt Nam” do Cục Hậu cần quân khu Côn Minh biên soạn cho biết:

“Từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 16 tháng 3 quân ta tổng cộng hy sinh 6954 người, bị thương hơn 14.800 người, chỉ riêng hai ngày 17, và 18 đã thương vong 4000 người, khiến bộ phận hậu cần trở tay không kịp nhiều người bị thương vì không được cứu chữa kịp thời nên đã chết.”

 Xin lưu ý:

– trên đây là số thương vong do người Trung Quốc nói,

– chưa kể số thương vong trong các trận đánh từ sau đó đến khi hai nước bình thường quan hệ.

 

                                                                  Tam Dương (tóm lược giới thiệu)

 

*Nguồn mạng “Hán hồn” và “luzhou”

  

 

 

Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)

Bài vừa đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị thì bị rút xuống
9-2-09


Huy Đức
 

Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.

“Những đôi mắt”

Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.

Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.

“Cuộc Chiến 16 Ngày”

Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.

Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.

Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.

Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.

Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

Lặng Lẽ Hoa Đào

Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.

Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.

Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.

Huy Đức


Ảnh cùa Lê Quang Nhật

 Lấy từ Blog Osin

‘Đã tới lúc Đảng nhân nhượng quyền lực’

BBC 8-2-13

Một giáo sư gốc Việt giảng dạy ở Pháp nói đã đến lúc Đảng cộng sản cần “nới lỏng” để trao trả quyền lực cho nhân dân, chứ không chỉ giới hạn ở việc lấy ý kiến cho bản Dự thảo Hiến pháp chính thức mà chính quyền đang tiến hành hiện nay.

Trao đổi với BBC Việt ngữ từ Đại học Toulouse hôm 08/2/2013, Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng nói ông hy vọng rằng đợt sửa Hiến pháp lần này sẽ là một bước “nhân nhượng” của Đảng để tự “giảm bớt quyền lực.”

Ông nói: “Người ta đã nhận thấy người ta không có khả năng ôm đồm quyền lực nữa như là Đảng Cộng sản nghĩ, thì đây là một sự mặc cả giữa Đảng và nhân dân Việt Nam.

“Đảng Cộng sản vẫn có thể sau lần này giữ một vai trò quan trọng nhưng không còn có thể, nói thẳng ra, là độc tài như trước được nữa.”

Giáo sư Dũng tin rằng Đảng hiện đang có một vấn đề tâm lý cần vượt qua “là nỗi sợ phải từ bỏ quyền lực” mà từ lâu vẫn độc quyền do xuất phát từ điều mà ông gọi là “tính tham quyền lực.”

Ông cho rằng việc người dân và các giới, trong đó có giới trí thức tư vấn cho Đảng về một “lộ trình chuyển giao quyền lực” được hiểu là diễn ra trong hòa bình, công bằng, tránh bạo lực, là “quan trọng” để Đảng có thể tiến hành công việc “nới lỏng và bàn giao quyền lực”

Ông nói: “Hiến pháp sẽ không thể hiện điều đó nhưng chuyện đàm phán để có được điều đó theo tôi rất quan trọng để có thể có được Hiến pháp mới.

“Và về phía những người không thuộc phía Đảng mà bây giờ muốn Đảng nới bỏ quyền lực ra thì cũng cần có sự đảm bảo cho những người ở trong Đảng hiện tại những sự đảm bảo nhất định thì họ mới có thể yên tâm nới lỏng quyền lực của mình ra.”

Trong khi cho rằng lần sửa đổi Hiến pháp lần này là một “cơ hội” của toàn dân, nhà khoa học cũng tin rằng việc đi tới cải thiện xã hội, trong đó có việc thay đổi, sửa đổi Hiến pháp, là một “trách nhiệm” và một sự nghiệp “không có điểm dừng” của người dân.

Ông Dũng nói: “Nhiệm vụ của người dân là phải tiếp tục tìm cách thay đổi xã hội cho tốt hơn, việc thay đổi xã hội là một chuyện lâu dài và không có điểm nào là điểm dừng, chứ không phải là nếu không được nghe thì thôi, thì bỏ cuộc, vì cứ như thế sẽ không đi đến đâu.”

‘Điều dân mong muốn

Trong bài viết mới công bố của mình trên mạng Internet với tựa đề “Hiến pháp nào cho Việt Nam?,” Giáo sư Dũng lưu ý mười nguyên lý mà một bản Hiến pháp cần tôn trọng và thể hiện là pháp trị, logic, nhân quyền, xã hội, bảo vệ, dân chủ, phân quyền – kiểm soát lẫn nhau, minh bạch, tự quản, hòa bình và trung lập.

Ông cho rằng về mặt bản chất, hiến pháp Việt Nam là một “hiến pháp Đảng trị” chứ không phải là dân chủ hay luật trị vì theo ông “dân không được bầu ra lực lượng lãnh đạo cao nhất (Đảng) và Đảng không chịu sự kiểm soát thực sự nào từ phía nhân dân.”

Nhà khoa học nhắc tới hiện tượng “ôm đồm quyền lực” trong một thể chế mà ông gọi là “chính quyền cảnh sát.” Ông viết: “Đảng không những nắm chính quyền, mà còn muốn kiểm soát chặt chẽ tất tật mọi thứ trong xã hội: kinh tế, chính trị, thông tin, văn hóa, tư tưởng, giáo dục, v.v…”

Bình luận về nguyên lý “bảo vệ” của Hiến pháp và đặt câu hỏi “Hiến pháp bảo vệ ai?,” nhà toán học viết:”Chính quyền do dân lập nên và vì dân, chứ không phải là vì bản thân cái chính quyền, chính quyền có phải hy sinh để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, của dân tộc, thì cũng phải hy sinh.”

Sau khi cho rằng bản dự thảo Hiến pháp chính thức của chính quyền có nhiều “vấn đề nổi cộm,” nhà khoa học nhấn mạnh: “Để có được một hiến pháp tiến bộ, nhân dân Việt Nam phải ngồi cùng với Đảng Cộng sản VN để sửa hiến pháp.

“Nhưng không phải là sửa theo kiểu dự thảo 01/2013, mà sửa một cách cơ bản, đàng hoàng, dựa trên một mô hình tổ chức mới về chính trị hợp lý hơn dân chủ hơn, có sự kiểm soát tốt hơn, minh bạch hơn, dễ chống tham nhũng hơn, v.v…

“Toàn bộ các nguyên lý cơ bản của một hiến pháp dân chủ tiến bộ phải được tôn trọng trong một hiến pháp mới, đấy mới là điều mà nhân dân Việt Nam mong muốn,” ông lưu ý.

Hiện đang có nhiều ý kiến về việc nên hay không nên tham gia đóng góp cho lần sửa đổi Hiến pháp 1992 đang diễn ra, trong đó, có ý kiến phê phán nói chính quyến đặt thời hạn ba tháng để dân góp ý là “quá ngắn và bất hợp lý,” trong khi đề dân cần có nhiều thời gian hơn để tìm hiểu và chính quyền cũng cần mở rộng việc thông tin, tuyên truyền cũng như tổ chức các diễn đàn thảo luận.

Trong lúc có ý kiến tin rằng không nên tham gia đóng góp cho Dự thảo vì bản đề án của Chính quyền là “áp đặt,” “dân chủ hình thức,” thậm chí là “câu giờ” hay “giả hiệu,” nhiều diễn đàn đã được mở ra trên mạng.

Gần đây, một bản kiến nghị về Hiến pháp mới đã được đại diện các trí thức, nhân sỹ và quần chúng giao cho chính quyền đầu tháng Hai với hơn hai nghìn chữ ký đi kèm vào thời điểm đó.